Chương 1: Phòng chờ cuối hành lang
Khoảng 5 phút đọc·14lượt xem
Tôi về khoa sản nhà B vào tháng Mười năm 2018, năm thứ hai nội trú. Nhà B là khu nhà ba tầng xây từ năm 1972, tường gạch quét vôi vàng đã ngả màu bánh mật, hành lang lát gạch hoa đỏ, cửa sổ chớp gỗ sơn xanh lá mạ. Bệnh viện đã có quyết định đập nhà B để xây khối mới, nhưng tiền chưa về, nên khoa sản vẫn ở tầng ba. Phòng đẻ và phòng mổ nhỏ ở đầu hành lang, năm phòng hậu sản nối nhau ở giữa, cuối hành lang là cầu thang bộ và phòng chờ của người nhà.
Năm ấy Hà Nội lạnh sớm. Mới giữa tháng Mười mà sáng ra đi xe máy từ Khương Trung lên viện, tay tôi đã cóng. Tôi lôi cái áo len xanh rêu ra mặc bên trong áo trắng. Áo ấy mẹ tôi đan năm tôi vào đại học, mũi hạt gạo, len dày, dài quá hông. Mẹ tôi mất năm ngoái vì bệnh gan. Cái áo là thứ duy nhất của mẹ tôi còn mặc hằng ngày.
Ca trực đêm đầu tiên ở nhà B, tôi trực cùng bác sĩ Lâm, trưởng ca, hơn năm mươi tuổi, người gầy, hay ra cầu thang hút thuốc. Điều dưỡng trưởng ca đêm là chị Hạnh, ngoài bốn mươi, ít nói, lúc nào cũng nhìn đồng hồ trước khi trả lời. Nội trú năm ba là anh Quân, người Thái Bình, hay đùa, hay ăn.
* * *
Chiều đi buồng, tôi vào phòng 303. Phòng tám giường, đánh số từ chín đến mười sáu, hai dãy kê sát tường. Đến góc trong cùng bên cửa sổ, tôi khựng lại. Chỗ ấy không có giường. Chỉ có một cái tủ đầu giường sơn trắng, cánh tủ bong sơn, trên mặt tủ đặt một cốc nước thuỷ tinh đầy đến miệng. Tấm biển số mười bốn vẫn còn đóng trên tường, chữ đen nền trắng, cũ hơn các biển khác.
Tôi hỏi anh Quân. Anh nhìn qua vai tôi, nói góc ấy tường thấm, mùa mưa dột, để trống mấy năm rồi. Tôi ngẩng lên nhìn trần. Trần khô. Vết ố duy nhất ở góc kia, phía giường mười sáu.
Anh Quân đã đi sang giường chín. Tôi nhìn cái cốc nước một lúc rồi đi theo.
* * *
Mười một giờ đêm, khoa yên. Phòng đẻ có một sản phụ con so mới mở hai phân, còn lâu. Tôi cầm cốc mì tôm ra phòng chờ lấy nước nóng, vì máy nước nóng lạnh của khoa đặt ở đó.
Phòng chờ là một căn phòng rộng bằng hai phòng bệnh, ba dãy ghế nhựa xanh gắn liền nhau. Trên tường treo một cái ti vi màn hình dày đã hỏng từ lâu và một bảng thông báo dán lịch tiêm chủng. Trên cửa có tấm biển in chữ đỏ: người nhà không ở lại khu hậu sản sau hai mươi mốt giờ. Cửa sổ nhìn xuống sân trong, dưới sân có cây bàng già đang rụng lá.
Bà cụ ngồi ở ghế góc trong cùng, cạnh cửa sổ.
Bà nhỏ người, mặc áo len xám cài khuy, quàng khăn vuông, chân đi dép nhựa, cạnh chân là một túi vải hoa đựng len. Hai tay bà cầm hai cây kim tre, đan một cái áo trẻ con bé bằng bàn tay xoè. Tiếng kim chạm nhau lách cách, đều, không nhanh không chậm, như tiếng đồng hồ quả lắc nhà ai.
Điều tôi để ý đầu tiên là bà không nhìn vào tay mình. Người đan quen vẫn thế, mẹ tôi cũng thế. Nhưng mẹ tôi nhìn ti vi, nhìn người nói chuyện. Bà cụ nhìn thẳng ra cửa phòng chờ, nhìn ra hành lang, nhìn về phía các phòng hậu sản. Mắt bà không chớp theo nhịp tay.
Tôi đi tới máy nước, ấn vòi. Nước nóng rót xuống kêu ùng ục. Bà cụ nói, không quay đầu:
"Cháu bé giường mười bốn đã bú được chưa hả bác sĩ?"
Giọng bà khô, hơi khàn, giọng người ngoại thành. Tôi đáp theo thói quen, như đáp với bất cứ người nhà nào ở bất cứ hành lang nào:
"Dạ, bé bú tốt rồi ạ."
"Thế thì tốt."
Kim lại lách cách. Tôi cầm cốc mì đi ra. Đến giữa hành lang, chỗ ánh đèn ống chập chờn trước phòng 303, tôi dừng lại. Giường mười bốn. Tôi vừa nói bé giường mười bốn bú tốt.
Tôi quay lại cửa phòng chờ. Bà cụ vẫn ngồi đó, vẫn đan, vẫn nhìn ra hành lang. Nhìn tôi. Tôi định hỏi bà là người nhà của ai, nhưng lúc ấy chị Hạnh gọi tôi từ phòng đẻ. Tôi đi.
* * *
Đêm ấy yên đến quá nửa. Sản phụ con so đẻ được, mẹ con đều ổn, chuyển về phòng 304. Tôi ngồi ở phòng trực viết bệnh án, mì tôm đã nở trương trong cốc, tôi không ăn nổi.
Về khuya, hành lang lạnh hẳn đi, gió lùa qua cửa chớp làm cái đèn ống trước phòng 303 chập chờn mãi. Tôi lại ra phòng chờ lấy nước uống thuốc đau đầu. Bà cụ vẫn ngồi đó. Chiếc áo len trên tay bà đã thành hình, hai tay áo xong, bà đang khép những mũi cuối ở cổ. Bà cắn chỉ, giũ chiếc áo ra, vuốt phẳng trên đầu gối, rồi gấp làm tư. Bà nói, như nói với mình:
"Xong rồi."
Tôi chưa uống hết cốc nước thì chuông ở phòng 303 réo. Chị Hạnh chạy trước tôi. Sản phụ giường mười lăm, sinh thường lúc chiều, đờ tử cung, máu ra ướt đẫm hai tấm lót. Chúng tôi đẩy chị ấy sang phòng mổ nhỏ. Bác sĩ Lâm từ cầu thang chạy vào, mùi thuốc lá còn vương trên áo. Mổ đến lúc cửa sổ phòng mổ hửng xám, cắt tử cung, cứu được mẹ. Đứa bé nằm ở phòng sơ sinh, không biết gì.
Tôi ra khỏi phòng mổ, tay còn run vì đứng lâu. Tôi đi dọc hành lang về phòng trực. Phòng chờ trống. Ghế góc trong cùng không có ai, chỉ vương một sợi len ngắn màu hồng đào trên mặt ghế. Ngoài hành lang, người nhà giường mười lăm ngồi bệt dưới đất ôm túi đồ, trên túi vắt chiếc áo khoác mỏng của sản phụ, cũng màu hồng đào.
Lúc ấy tôi chưa để ý màu. Tôi chỉ nhớ là khi đi ngang phòng 303 để xem lại bảy sản phụ còn lại, tôi nhìn vào góc trong cùng, và cốc nước trên tủ đầu giường mười bốn đã vơi đi một nửa.