☾ Truyện Ma Có Thật
← Nắm cơm dưới gối

Chương 3: Ai kêu cũng đừng dạ

Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem

Sáng hôm sau má chưa đi chợ, vì trời mưa dầm từ khuya. Cả nhà ngồi ăn cơm nguội với cá kho dưới bếp. Tôi hỏi, giọng làm như không có gì:

"Nhà mình hồi đó có ai tên Ngà hông ba?"

Ba lắc đầu, nói bên nội chỉ có ba, chú Tư ở Long An, cô Năm mất hồi nhỏ, cô Sáu. Bên ngoại ba không biết, ông bà ngoại ba ở ngoài Bắc hết, chưa ai gặp.

Má đang cầm chén nước mắm. Cái chén rớt xuống nền gạch, bể làm hai. Nước mắm văng lên ống quần ba.

Má cúi xuống lượm mảnh chén, lượm bằng tay không, cứa vô ngón tay, máu nhỏ xuống. Ba la má. Má không nghe. Má nói với tôi, mắt không ngó lên:

"Đừng có nhắc cái tên đó trong nhà. Ngà nghe như ngã. Bà mới té đó, mày nhắc hoài bà té nữa."

Tôi chưa nghe ai kiêng chữ đó bao giờ. Mà má là người kiêng cữ nhiều nhất nhà, mùng một không quét nhà, đi đường thấy rắn bò ngang là quay về. Tôi cho là vậy. Tôi im.

* * *

Trưa, tôi thay áo cho bà. Bà mặc áo bà ba lãnh đen, có hai cái túi ở vạt. Áo này hôm qua tôi mới thay, túi để không.

Túi bên phải căng phồng.

Tôi thò tay vô và rút ra ngay. Trong túi là cơm. Không phải một nắm vo tròn như hôm trước. Lần này cơm được nhét vô từng nhúm, nhồi chặt cả túi, như con nít giấu đồ ăn, nhét cho hết chỗ, sợ người lớn thấy lấy lại. Hột cơm dính vô lớp vải lót, phải lấy móng tay cạy ra.

Tôi ra bếp. Nồi cơm sáng nay má nấu, ba ăn hai chén rồi đậy nắp, giờ bị móc ở ba chỗ. Ba lỗ lõm, cạnh nhau, nhỏ, sâu.

Tôi lấy sợi dây dù cột nắp nồi lại, thắt nút chặt, cột luôn vô quai. Tôi biết làm vậy là ngu. Mà tôi không biết làm gì khác.

Tôi giặt cái áo bà ba. Nước giặt có mùi rơm khét.

* * *

Chiều mưa tạnh, tôi chạy xe đạp qua xóm đạo cách nhà ba cây số, kiếm ông Chín Hòa. Ông Chín cũng người ngoài Bắc di cư vô năm năm mươi tư, cả xóm đạo bên đó đều vậy. Ông ngoài tám mươi, ngồi đan giỏ cói ở hiên nhà thờ họ, nói giọng Bắc còn nặng, chỉ lâu lâu lẫn một chữ Nam.

Tôi hỏi ông có biết làng nào tên Quang Đạo không.

Ông ngừng tay. Mắt ông nheo lại.

"Quang Đạo à. Khoái Châu, Hưng Yên. Làng bãi, ven sông Cái. Ông không ở đấy, ông ở Kim Động, cách có mấy chục cây. Sao cháu biết cái làng ấy?"

Tôi nói bà nội tôi tai biến, mê man nhắc tên làng đó. Ông gật đầu chậm.

"Dân bãi nghèo lắm cháu ạ. Một năm nước lên mấy bận, ngô chưa kịp bẻ đã ngập. Năm ấy đi, nhiều nhà đi tay không. Có nhà gửi con lại cho ông bà, bảo hai năm tổng tuyển cử là về đón. Ai cũng bảo thế."

Ông im một lúc, tay lại đan giỏ.

"Thế rồi có ai về được đâu."

Tôi hỏi ông con gái ngoài đó hay đặt tên gì. Ông cười, nói đủ thứ. Nụ, Mận, Hĩm, Gái, Ngà. Tôi hỏi lại chữ cuối. Ông nhìn tôi.

"Ngà. Ngà voi ấy. Nhà nghèo đặt tên quý cho con, mong nó sau này được ăn no."

* * *

Tôi về tới nhà thì trời chạng vạng. Ba ra ghe. Má ngồi ngoài hiên nhặt rau muống, không vô buồng bà. Tôi bưng chén cháo vô.

Bà đang tỉnh. Bà nhận ra tôi, kêu "nhỏ" bằng giọng Nam đớt đớt của bà. Tôi đút được nửa chén thì bà lắc đầu, ngoắc tay phải kêu tôi cúi xuống.

Tôi cúi xuống. Bà nắm cổ tay tôi. Tay bà lạnh và chặt, chặt hơn sức một người tai biến.

"Nhỏ. Bà dặn con một chuyện."

Hơi thở bà có mùi cháo, mùi dầu gió, và ở dưới đáy, mùi rơm ướt cháy.

"Đêm, ai kêu cái tên đó, con đừng có dạ. Nghe chưa. Đừng dạ."

"Tên gì bà?"

Bà không trả lời. Con mắt phải của bà đỏ lên, nước mắt chảy xuống bên má xệ. Bà buông tay tôi, nhắm mắt, quay mặt vô vách. Vai bà run một hồi lâu.

Tôi ngồi đó tới khi bà ngủ. Trên cổ tay tôi in bốn dấu ngón tay đỏ.

* * *

Nửa đêm, buồng lạnh dần. Mùi khói lên. Tôi nằm im như mấy đêm trước, mắt mở trong tối.

Lần này bà không ngồi dậy. Tiếng nói từ trên giường vọng xuống, nhẹ, gần như thì thầm. Giọng Bắc, mà nhịp của giọng là nhịp con nít, hỏi xong là chờ.

"Chị ơi. Chị tên là gì?"

Tôi không định trả lời. Nhưng câu hỏi bình thường quá, như đứa nhỏ nhà hàng xóm hỏi, và tôi đã nằm sợ ba đêm liền. Tôi nghĩ, tên tôi thì có sao đâu. Bà dặn tên đó, đâu phải tên tôi.

"Thảo."

Im lặng một lúc. Ngoài mương không một tiếng ếch. Rồi trên giường, cái giọng ấy bật cười khúc khích, lâu, đến hụt hơi.

"Không phải. Chị nói dối."