☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba tiếng gõ mạn đò

Chương 9: Người đưa đò mới

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Người ta kéo chiếc đò về bến lúc sáng. Trên đò mọi thứ còn nguyên. Cây dầm gác ngang sạp. Cây đèn bão cạn dầu, vừa tắt. Trên ván mũi, ngay dưới con mắt sơn đỏ, có một vòng vải đỏ cũ, bạc màu, thắt nút chắc. Sợi vải ở gốc bần. Ba đã tháo nó ra đem theo.

Người ta mò hai ngày không thấy. Ngày thứ ba ba nổi lên ở gốc bần, đúng chỗ má tôi nổi mười hai năm trước. Ông Năm là người vớt. Ông nói với tôi, mặt ba tôi bình thường, mắt nhắm, một tay nắm chặt cái gì đó không gỡ ra được. Người ta chôn ba với bàn tay nắm như vậy. Tôi không coi. Tôi biết trong tay ba là gì.

Đám ma ba, cả chợ qua. Không ai nhắc chuyện ba say rượu năm xưa nữa. Bà Bảy đốt nhang xong đứng nhìn tôi, định nói gì, rồi thôi, chỉ vỗ vai tôi một cái.

* * *

Sau đám ma, tiếng gõ ngưng.

Đêm đầu tiên tôi nằm trong chòi chờ tới khi nước ròng sát, không có gì. Đêm thứ hai, thứ ba. Một tuần. Một tháng. Bờ bên kia vàm trống trơn mỗi đêm. Tôi bắt đầu tin cái điều người ta nói ở đám ma: ba tôi xuống thế chỗ, má tôi được đi, cái dưới nước đã có người mới.

Tôi không lên Sài Gòn. Dì Tám xuống kêu, tôi không đi. Tôi nói với dì, đò này ba chèo, ông nội chèo, con bỏ thì người bên cù lao qua chợ bằng gì. Dì khóc rồi về. Tôi sơn lại con mắt ở mũi đò, đỏ và đen, và chạy chuyến đầu tiên của tôi ngày thứ năm sau khi chôn ba.

Tôi giữ ba điều ba dặn. Tôi giữ còn kỹ hơn ba. Mười hai giờ là cột đò ba vòng. Nghe gì dưới sông cũng làm thinh. Sáng ra thấy dấu ướt thì dội nước vo gạo. Mà không có dấu ướt. Không có gì hết.

Bốn mươi chín ngày của ba, tôi cúng ở gốc bần, cột lại một sợi vải đỏ mới, vì tôi không biết làm gì khác.

Đêm thứ năm mươi, ếch nhái dưới rễ bần nín bặt. Con chó nhà ông Năm đang sủa cũng thôi.

"Cốc." Nghỉ. "Cốc." Nghỉ.

Rồi tiếng thứ ba. Mà không phải một. Hai tiếng gõ chồng lên nhau, một nặng một nhẹ, lệch nhau chừng một cái chớp mắt, như hai bàn tay cùng gõ mà không đều.

Tôi không ngồi dậy. Tôi nằm trên võng nhìn lên mái lá, và tôi thấy mình không sợ như trước. Tôi chỉ mệt. Tôi vén tấm lá cửa chòi nhìn ra.

Bờ bên kia vàm, chỗ bến chợ, có hai người đứng.

Người đàn bà áo bà ba đen, tay giơ cao. Và cạnh bà, lùi lại nửa bước, một người đàn ông ốm, mặc bà ba trắng, đứng hơi nghiêng vì một bên tay buông thõng. Ông không giơ tay. Ông chỉ đứng nhìn qua. Dáng ông là dáng người đợi đò. Đợi lâu lắm rồi.

Vậy là ba không thế được cho má. Ba chỉ xuống đó đứng cạnh má.

Và cả hai cùng chờ tôi.

* * *

Đó là chuyện của hơn hai mươi năm trước. Tôi vẫn ở vàm Rạch Bần. Vẫn chạy đò, dù giờ người ta đã bắc cây cầu bê tông phía trên vàm hai cây số, khách thưa, ngày được vài chuyến, toàn người già ngại đi vòng. Tôi có vợ, có một đứa con trai. Nó năm tuổi.

Hai người bên kia vàm vẫn đứng đó mỗi đêm nước ròng. Không gõ, không kêu. Chỉ đứng. Người đàn ông vẫn lùi sau nửa bước, một tay buông thõng, tay kia nắm cổ tay người đàn bà. Mỗi năm tôi thấy bà đứng gần mép nước hơn một chút, và ông bị kéo theo một chút.

Tôi chưa bao giờ trả lời. Tôi chưa bao giờ đưa đò sau mười hai giờ. Tôi dạy con tôi bơi từ năm ba tuổi, dạy nó không được xuống bến một mình, dạy nó nghe ai kêu tên mình từ dưới sông thì chạy lên nhà kêu ba.

Tối qua tôi tắm cho nó ở lu nước sau nhà. Nó kể, giọng vui vẻ như kể chuyện trường mẫu giáo:

"Ba ơi, hồi chiều con chơi ngoài cầu ván á, có bà kia ở dưới nước kêu con. Bả hỏi con phải con thằng Hậu hông. Con nói phải. Bả biểu xuống chơi. Con nói con hổng biết lội chỗ sâu. Bả nói hổng sao, mai bả lên dắt."

Tôi xối nước lên đầu nó. Tay tôi không run. Tôi đã tập cho tay không run từ năm mười bảy tuổi.

Tối nay là đêm nước ròng sát. Tôi cột dây đò ba vòng. Tôi treo đèn bão ở cây sào, vặn nhỏ hết cỡ. Tôi đem võng ra chòi, mà tôi không nằm. Tôi ngồi ở cửa, mặt hướng ra sông, như ba tôi đã ngồi.

Và tôi bắt đầu dặn con tôi ba điều.