Chương 8: Bảy cây cọc tre
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Sáng hôm sau tôi không nói với ai chuyện đêm qua. Mạ thấy quần áo tôi ướt sũng phơi ngoài dây, thấy hai gót chân tôi đỏ bầm, thấy thằng Bin bám rịt lấy tôi không rời. Bà không hỏi. Bà nấu nồi nước lá bưởi cho tôi xông.
Tôi ngồi trùm mền trên nồi nước lá, hơi nóng hầm hập. Trong bóng tối dưới tấm mền, tôi nghe lại câu thằng Bin nói. Lần ni ba đạp nhẹ hơn hồi nớ.
Tôi biết lúc đó tôi nên làm gì. Tôi nên qua nhà ông Mười nói hủy. Nên nói với bà con cái tôi biết, cái tôi nhớ. Mà nói ra thì phải nói luôn cái khoảng hai mươi bốn năm tôi không kể.
Tôi ngồi trong mền tới khi nồi nước nguội ngắt. Tôi không đi đâu hết.
* * *
Chiều đó nước ròng sát. Bậc đá cuối cùng lộ hẳn lên, đen nhẫy, rêu bám dày. Bà con kéo ra bến đông hơn đám giỗ. Đàn ông đứng trên bờ, đàn bà đứng sau, con nít bị giữ ở nhà hết.
Ông Bảy Hên bày mâm cúng ngay dưới gốc gạo. Con gà trống luộc vàng ươm, ngậm bông hồng đỏ trong mỏ. Mâm xôi đậu, ba chén rượu, một xấp giấy tiền vàng bạc. Ông đốt sớ, khấn một hồi dài, giọng khi trầm khi cao, nghe không ra chữ.
Chú Hai Lộc với hai thanh niên chở bảy cây cọc ra hũm bằng xuồng ông Mười. Ông Mười không chèo. Ông đứng trên bờ, hai tay chắp sau lưng.
Tôi đứng cạnh ông. Tôi đứng đó, như năm mười hai tuổi tôi đứng trên bờ, nhìn người khác ra hũm.
Cây cọc thứ nhất cắm xuống. Chú Hai Lộc cầm cái vồ gỗ, nện. Tiếng vồ đập vào đầu cọc vang khô khốc trên mặt sông, dội qua bãi bên kia rồi dội về. Cây thứ hai. Cây thứ ba. Mỗi cây cọc quấn một lá bùa vàng, bùa ngấm nước, mực đỏ loang ra như vết thương.
Đến cây thứ năm thì o Sáu tới.
O không chạy được. O đi, lưng còng, chống cây chổi chà như chống gậy. Hai người đàn bà chạy ra cản. O hất tay họ ra, mạnh tới mức một người suýt té. O đứng ở bậc đá trên cùng, nhìn ra hũm, rồi la lên. Tôi chưa từng nghe o la, kể cả hôm đám tang Tánh.
"Tụi bây đóng cọc lên vai con tau! Tụi bây đóng lên vai hắn!"
Mặt sông im. Cái vồ trong tay chú Hai Lộc dừng lưng chừng.
Ông Bảy Hên quay lại, nói với người trên bờ:
"Đưa bà về. Vong đang níu bà đó."
Hai người đàn ông xốc nách o, dìu đi. O không giằng nữa. O quay đầu lại, nhìn tôi. Chỉ nhìn tôi. Trong mười mấy người trên bờ, o nhìn đúng một người.
Tôi cúi mặt xuống.
Tôi nhìn xuống chân mình, đôi dép tổ ong, mười ngón chân bám đất đỏ, y như sáng hôm tôi ngồi ở nhà o. Tôi nghĩ, chỉ cần tôi bước lên một bước, nói một câu. Bước một bước thì dễ hơn bơi ra hũm nhiều. Mà tôi không bước.
* * *
Cây cọc thứ sáu cắm xuống dễ. Cây thứ bảy thì không.
Chú Hai Lộc nện ba vồ, cọc không xuống. Chú la lên, nói dưới này có cái chi cứng cứng mà mềm mềm, không phải đá, không phải gốc cây. Chú nói nó đẩy cọc lên. Mấy người trên bờ nhìn nhau.
Ông Bảy Hên đổ một chén rượu xuống nước, nói lớn:
"Nện tiếp."
Chú Hai Lộc nện. Một vồ. Hai vồ. Tới vồ thứ năm thì cây cọc sụt xuống một khúc dài, ngập tới chỗ lá bùa. Như cái gì bên dưới đã chịu thua.
Tôi đứng trên bờ, hai bàn chân bấm chặt xuống đất. Gót chân tôi đau buốt, như chính tôi vừa bị đóng xuống.
* * *
Ba ngày sau đó, bến Gạo yên như chưa từng có chuyện gì.
Ếch nhái kêu suốt đêm, không ngắt quãng. Không còn bông gạo nào trên bậc đá. Thằng Bin hết sốt hẳn, ăn ngủ bình thường. Nó không nhắc tới anh nớ nữa. Tôi hỏi, nó nói con không thấy, rồi đi chơi bắn bi.
Bà con mừng. Chú Hai Lộc đi khắp xóm nói ông Bảy Hên cao tay. Tới ngày thứ ba thì các nhà cho con nít ra bến tắm lại, vì trời nắng quá, và vì đã trấn rồi.
O Sáu không ra quét nữa. Chiều nào o cũng ra ngồi ở bậc đá trên cùng, cây chổi chà để bên cạnh. O ngồi nhìn bảy cây cọc tre trơ trơ giữa sông. Không ai dám tới gần o.
Vợ tôi nhắn, chủ nhật ra đón Bin. Tôi nói được.
Trưa thứ bảy, tôi đang ngồi buộc lại dây quai dép cho Bin ngoài hiên thì nghe tiếng con nít la ngoài bến. Không phải tiếng la chơi. Tiếng la của con nít khi gặp một chuyện chúng nó chưa từng gặp.
"Thằng Tí! Thằng Tí rớt xuống hũm rồi!"
"Hắn hổng lên! Chú ơi! Hắn hổng lên!"