Chương 2: Bảy phần mười số
Khoảng 5 phút đọc·13lượt xem
Ngày thứ hai tôi không đi dây. Tôi để cuộn dây ở góc nhà và dành cả buổi sáng đi tìm bảy phần mười số đó.
Thợ điện có cái tật là không tin cái gì mình chưa đo. Tôi đo từ cầu dao vào nhà, không có dòng. Tôi dò từng phòng, từng đui đèn, từng ổ cắm mất nắp. Không có gì nối với cái gì. Căn nhà này, tính về điện, là một cái xác.
Vậy mà công tơ ăn.
Tôi gọi cho thằng Phúc, bạn học cũ, làm thợ đường dây bên điện. Nó cười, nói công tơ cơ mới xuất xưởng được kiểm định hết, sai số có một hai phần trăm, không có chuyện tự chạy bảy phần mười số một đêm. Nó hỏi nhà ai. Tôi nói nhà cũ bên cù lao, chủ mất rồi. Nó im một chút rồi nói, nhà đó hả, hồi gắn công tơ tuần trước thằng đi gắn về kể, nó gắn xong thử thì đĩa quay, mà quay lúc chưa cắm gì hết.
"Nó ghi biên bản sao?"
"Ghi là thử tải bình thường. Mày biết rồi, ai rảnh ghi mấy chuyện đó."
* * *
Trưa ông Khải ghé, vẫn đậu xe quay đầu ra đường, vẫn đứng ở bậc thềm. Tôi kể chuyện công tơ. Ông ta nghe, đầu nghiêng, gật đều đều như nghe báo giá vật tư.
"Công tơ mới hay vậy. Anh cứ làm phần của anh. Xong sớm tôi thưởng thêm."
Tôi nói tôi muốn ở lại một đêm coi nó chạy lúc nào. Ông ta không trả lời ngay. Ông ta nhìn vào trong nhà, qua vai tôi, về phía cuối hành lang, rồi mới nhìn lại tôi.
"Anh muốn thì anh ở. Nhưng ở ngoài cổng thôi. Trong nhà tối không có đèn, anh té cầu thang tôi không chịu trách nhiệm."
Rồi ông ta rút thêm hai tờ năm trăm ngàn, nói là tiền công thức đêm. Tay trái ông ta khi đưa tiền có một vết sẹo bóng, trắng, chạy từ ngón cái xuống cổ tay, kiểu sẹo phỏng cũ. Tôi nhớ vì sẹo phỏng điện tôi thấy nhiều, nó không nhăn như phỏng lửa, nó láng.
* * *
Tối đó tôi nói với vợ là đi làm đêm cho nhà máy. Hạnh không hỏi. Tôi chạy qua cầu Rạch Cát lúc mười một giờ, đường đất ven sông không một bóng đèn, chỉ có ánh đèn bên kia sông hắt xuống nước thành từng vệt dài. Tôi dựng xe sát hàng rào dâm bụt, tắt máy, ngồi lên yên, mắt ngang tầm hộp công tơ trên trụ cổng.
Nhà bà già bên cạnh đã tắt đèn. Cả khúc đường chỉ còn tiếng dế và tiếng sông. Sông Đồng Nai đoạn này chảy mạnh, nghe như có ai thở dài liên tục sau lưng nhà.
Tôi ngồi tới quá khuya thì bắt đầu gật. Tôi lấy bút thử điện ra cầm trên tay cho tỉnh, cái tật của thợ, cầm cái gì quen tay thì bớt sợ.
Tôi tỉnh hẳn vì tiếng dế tắt. Không phải thưa dần, mà tắt một lượt, cả bãi cỏ, như có ai đậy nắp. Rồi gió từ phía nhà thổi ra, mang theo cái mùi tanh tanh ngọt ngọt hôm đầu tôi ngửi thấy trong nhà. Trong hộp công tơ, đĩa nhôm bắt đầu quay.
Tôi thấy rõ vì có vạch đỏ trên mép đĩa. Nó quay chậm, đều, mỗi vòng chừng bốn giây, tốc độ của một nhà đang bật bàn ủi. Hướng quay thì đúng chiều, tới trước, như mọi công tơ bình thường trên đời. Tôi thở ra, không biết mình đã nín từ lúc nào.
Rồi tôi nhìn vào nhà.
Căn biệt thự tối đen, nhưng sát mặt đất, chỗ chân tường bên hông nhà, có một ô thông hơi hình chữ nhật chắn song sắt. Từ ô đó hắt ra một vệt sáng vàng, yếu, màu của bóng đèn tròn cũ chạy thiếu điện. Vệt sáng in lên cỏ, run run, như có nước đang lay trước mặt đèn.
Hầm ngập mười mấy năm rồi, bỏ. Ông Khải nói vậy.
Tôi bước xuống xe, đi dọc hàng rào tới gần ô thông hơi. Cỏ ướt sương tới đầu gối. Càng gần, tôi càng nghe một thứ tiếng, không phải tiếng máy, mà là tiếng nước. Nước nhỏ giọt vào nước. Đều, chậm, mỗi giọt cách nhau chừng một hơi thở. Và dưới tiếng nước, một tiếng rì rì rất nhỏ, tiếng mà thợ điện nào cũng nhận ra: tiếng của dòng điện đi qua một chỗ tiếp xúc không chặt.
Tôi ngồi xổm xuống, cách ô thông hơi hai thước. Tôi không dám lại gần hơn. Tôi không nhìn thấy gì bên trong ngoài vệt sáng vàng lay động và một mảng tường gạch ẩm. Bút thử điện trong tay tôi, không chạm vào đâu, nhá lên một cái đỏ cam rồi tắt.
Tôi ngồi như vậy, sau này tính lại thì chừng hai mươi phút. Rồi vệt sáng tắt. Không mờ dần, tắt như có người gạt công tắc. Tiếng nước ngưng cùng lúc. Một con dế trong bụi dâm bụt gáy thử một tiếng, rồi cả bãi cỏ gáy theo.
Tôi quay lại cổng. Đĩa nhôm đã đứng. Số công tơ mười ba phẩy tám.
* * *
Tôi ngồi trên xe tới sáng, không dám ngủ, cũng không dám về. Trời tảng sáng thì bà già bên cạnh mở cửa, thấy tôi, không ngạc nhiên. Bà bưng ra một ly cà phê đen pha vợt, đặt lên trụ cổng cạnh hộp công tơ, rồi nói, vẫn giọng không to ấy.
"Dế nín, phải hôn."
Tôi gật.
"Hai mươi mấy năm rồi đó chú. Hồi ông Thọ còn, vậy. Ổng chết, cũng vậy. Có điều hồi ổng còn thì chỉ nhà ổng sáng. Tới hồi ổng chết, nhà này bị cắt điện, thì tới phiên nhà tui."
Bà chỉ ngón tay vào hộp công tơ nhà bà, treo trên cột gỗ trước hiên.
"Tui rút hết phích, tắt hết đèn, nó cũng quay. Khuya nào cũng quay. Tháng nào cũng dư bảy tám số, hổng biết của ai. Tui kêu bên điện xuống coi ba lần, họ nói công tơ đúng. Tới tuần rồi người ta gắn lại công tơ cho nhà đó, nhà tui mới êm."
Bà nhìn tôi, lần đầu tiên bà nhìn tôi với vẻ gì đó giống như thương hại.
"Nên chú đừng có tắt gì hết nghe. Chú nối cho xong rồi về. Đừng có tò mò như thằng thợ hồi năm ngoái."
Tôi hỏi thằng thợ năm ngoái sao rồi. Bà cầm ly cà phê còn nguyên của tôi lên, đổ xuống gốc dâm bụt, quay vào nhà.