Chương 5: Chiếc cúc bạc hình bướm
Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem
Tháng Tám, Ín bắt đầu chuẩn bị đồ cho con. Người Thái có lệ khâu cái địu và cái chăn nhỏ cho đứa bé từ vải cũ của người trong nhà, để đứa bé quen hơi, ma nhà nhận ra nó là người nhà. Ín bảo trong buồng bố có một cái hòm gỗ đựng đồ của mẹ. Cô muốn lấy một tấm váy cũ của mẹ để khâu địu.
"Em hỏi bố chưa?"
"Bố không cho mở. Từ bé em đã không được mở. Nhưng đồ của mẹ thì phải để cho cháu."
Hôm ấy ông Pánh đi họp ở xã, đến chiều mới về. Ín bụng to, không cúi được, nhờ tôi lấy giúp. Tôi đứng ở cửa buồng ông một lúc. Buồng của bố vợ, rể không nên vào. Nhưng vợ tôi đứng sau lưng, tay đỡ bụng, nhìn tôi chờ.
Cái hòm làm bằng gỗ pơ mu, khóa bằng một cái chốt tre, không có ổ khóa. Tôi đẩy chốt ra, nhấc nắp.
* * *
Mùi trầu bốc lên đầu tiên. Mùi trầu cũ, khô, đã ngấm vào vải hai mươi năm. Tôi lùi lại nửa bước.
Bên trong, xếp phẳng phiu, là đồ của một người đàn bà Thái. Mấy tấm váy đen dài. Một cái áo cóm màu chàm, cổ đứng, bó sát. Hai tấm khăn piêu thêu hoa văn đỏ vàng, các góc đính tua chỉ màu. Một cái hộp trầu bằng bạc nhỏ, nắp chạm hình con cá. Và một chiếc vòng tay bạc to bản, chạm hoa.
Tôi cầm chiếc vòng lên. Nó nặng, lạnh, các đường chạm đã mờ vì người đeo lâu năm. Tôi nhớ bàn tay thò ra từ khe cửa phụ, nhớ ánh bạc lóe lên dưới trăng. Tôi đặt nó xuống, tay hơi run.
Ín ngồi xuống cạnh hòm, chậm chạp vì cái bụng. Cô cầm cái áo cóm lên, giở ra. Hàng cúc trước ngực áo làm bằng bạc, mỗi chiếc đúc hình một con bướm nhỏ, cánh xòe. Tôi đếm, có mười một con bướm. Ở chỗ con bướm thứ mười hai, ngay dưới cổ áo, chỉ còn mấy sợi chỉ đứt.
Ín áp cái áo lên mặt. Cô hít một hơi dài. Rồi cô ngồi im như thế, mặt vùi trong lớp vải chàm, hai vai cứng lại.
Tôi gọi cô. Cô bỏ áo xuống. Mặt cô trắng bệch, môi run, mắt đỏ hoe. Nhưng không có giọt nước mắt nào.
"Em nhớ mùi này," cô nói. "Em không nhớ mặt mẹ. Nhưng em nhớ mùi này. Đêm nào cũng có mùi này."
"Đêm nào là đêm nào?"
Ín nhìn tôi như không hiểu tôi hỏi gì. Rồi cô lắc đầu, cúi xuống lục tìm tấm váy.
* * *
Ông Pánh về sớm hơn chúng tôi nghĩ.
Tôi nghe tiếng chân ông ở cầu thang trước khi kịp đóng hòm. Ông bước vào, thấy cái hòm mở, thấy cái áo cóm trên tay Ín. Mặt ông đổi màu. Tôi chưa từng thấy ông như vậy. Ông đi ba bước dài đến bên hòm, giật cái áo khỏi tay con gái, gấp lại vụng về, nhét vào hòm, đóng nắp đánh rầm.
"Ai cho mở?"
Ông nói to. Rồi ông quay sang tôi, nói câu gì đó bằng tiếng Thái mà tôi không hiểu, nhưng giọng thì tôi hiểu. Ín cúi đầu. Tôi đứng dậy, xin lỗi bố, nói là con mở.
Ông Pánh đứng thở một lúc. Rồi vai ông chùng xuống. Ông ngồi bệt xuống sàn, cạnh cái hòm, tay vẫn đặt trên nắp, như sợ nó tự mở ra.
"Đồ của mẹ nó, để yên. Đừng mang ra ngoài. Đừng mặc. Đừng khâu cho cháu."
Ín hỏi, giọng nhỏ, mẹ mất vì sao. Hai mươi ba năm, đây là lần đầu tôi nghe cô hỏi bố câu ấy.
Ông Pánh miết tay trên nắp hòm, đi đi lại lại một đường vân gỗ.
"Mẹ mày mất mùa mưa năm chín hai. Ốm. Ốm nặng, không đưa đi viện được. Thế thôi."
Ông đứng dậy, ra bếp, ngồi quay lưng lại với hai chúng tôi. Đến tối ông không ăn cơm. Ông ngồi bên bếp hút hết điếu thuốc này đến điếu khác, rồi ủ bếp, rót nước, đặt trầu như mọi đêm. Nhưng lần này, trước khi đặt miếng trầu, ông quỳ xuống, trán chạm vào ngưỡng cửa phụ, nói rất lâu bằng tiếng Thái.
Tôi nằm trong màn, nghe giọng ông. Tôi chỉ hiểu được một chữ ông nhắc đi nhắc lại. Một cái tên.
Phiêng.
* * *
Đêm ấy tôi không nghe tiếng then cửa. Không nghe tiếng ru. Chỉ nghe tiếng suối và tiếng mưa bắt đầu lại lúc gần sáng, lộp độp trên mái ngói.
Nhưng có một tiếng khác, rất nhỏ, lẫn trong tiếng mưa. Tôi không chắc mình nghe thấy thật. Tiếng kim loại chạm nhau, leng keng khe khẽ, đều đều, như một chuỗi bạc đung đưa. Nó di chuyển, từ phía cửa phụ, dọc theo vách nhà, về phía buồng ông Pánh, rồi dừng lại.
Tôi nằm nghe cho đến khi nó im hẳn.
Sáng ra, Ín vẫn ngủ. Ông Pánh đã dậy, đang thổi lửa. Tôi đi về phía cửa phụ như mọi sáng. Ống bương cạn. Miếng trầu vẫn còn, nguyên vẹn, chưa ai động đến. Nằm đè lên nó là một vật nhỏ sáng lấp lánh.
Một chiếc cúc bạc hình con bướm. Cánh xòe. Mấy sợi chỉ chàm cũ còn mắc ở chân cúc.
Tôi nhặt lên, đưa cho bố vợ. Ông nhìn nó trong lòng bàn tay tôi, không cầm. Ông chỉ nói, giọng khàn như người vừa thức suốt đêm:
"Trả cái cúc. Không ăn trầu. Thế là... muốn đổi cái khác."