Chương 3: Hẻm không số
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Sáng ra tôi nhìn xuống sân trọ. Nền xi măng khô ráo, không có vệt nước nào. Chỉ có yên xe tôi là còn ướt, ướt tới trưa mới khô, dưới nắng tháng Bảy.
Hữu về trễ hơn mọi ngày, mặt mày khó coi. Nó ngồi xuống nệm, rút điện thoại, lại đưa tôi coi.
Gần hai giờ sáng, một chiếc xe hơi bảy chỗ chạy từ hướng cầu Băng Ky xuống, mất lái ở cổng bệnh viện trên Nơ Trang Long, tông vào dãy xe ôm đậu chờ khách. Hai anh bị thương, một gãy chân, một chấn thương đầu. Tài xế xe hơi say, ngủ gật. Dãy xe ôm đó đậu sát lề, ngay dưới cây bàng, chỗ tôi vẫn hay đậu quá nửa đêm. Tôi rời chỗ đó đi đón cô chừng hai mươi phút trước.
Hữu nói:
"Hai lần rồi."
Tôi không nói gì. Nó nhìn tôi, rồi hỏi một câu không liên quan:
"Mà răng qua Hiệp Bình Chánh mầy không đi ngả Bình Lợi? Ba năm tau thấy mầy toàn vòng Bình Triệu. Xa thêm hai cây chớ ít."
Tôi nói đường đó tối. Nó nói giờ có đèn rồi. Tôi nói quen rồi. Nó không hỏi nữa. Nhưng nó nhìn cái áo mưa xanh rêu sau cửa một cái, rồi nhìn tôi, rồi thôi.
* * *
Chiều tôi quay lại hẻm đường số chín.
Ban ngày cái tủ xôi mở bạt. Một bà cỡ sáu mươi, tóc búi, áo bà ba nâu, đang gói nốt mấy gói xôi cuối cho khách quen. Bàn thờ ông Thiên đầu hẻm có bình hoa cúc vàng còn tươi, ly nước đầy, chân nhang mới. Hẻm cụt, hai bên là nhà cấp bốn, cửa sắt kéo. Hẻm sâu chừng năm chục thước, cuối hẻm là bức tường gạch của một xưởng cơ khí đã đóng cửa, trên tường còn số điện thoại cho thuê viết bằng sơn đỏ. Chỗ cô đi vào đêm qua là một đoạn tường rào có cây mận đưa cành ra.
Tôi mua một gói xôi đậu xanh cho có cớ. Tôi hỏi, hẻm này có cô nào hay đi làm về khuya không, cỡ một hai giờ sáng.
Bà ngừng tay. Bà nhìn tôi, nhìn cái áo đồng phục xanh, nhìn cái nón bảo hiểm phụ móc ở xe. Nhìn lâu. Rồi bà hỏi lại:
"Chú chạy xe hả?"
Tôi nói dạ.
"Chú có chở ai về đây hồi khuya không?"
Tôi nói không, tôi hỏi giùm người quen. Tôi không biết sao tôi nói dối. Nói xong tôi thấy cổ khô.
Bà cúi xuống gói xôi tiếp, chậm hơn.
"Hẻm này toàn người già. Con gái đi đêm có đứa nào đâu."
Bà đưa gói xôi, tôi đưa tiền, bà gạt tay tôi ra.
"Thôi. Chú ăn đi."
Tôi dắt xe quay đầu. Bà nói với theo, không to, nhưng tôi nghe rõ từng chữ.
"Nếu chú có chở, thì chú chạy chậm thôi nghen."
* * *
Tôi ngồi ăn gói xôi ở một quán nước ven quốc lộ, ăn không thấy mùi vị gì. Trong đầu tôi là hai câu. Câu của cô, anh chạy chậm thôi. Câu của bà, chú chạy chậm thôi nghen. Hai người nói cùng một câu, cùng một cách ngắt, như hai người trong một nhà.
Tôi đếm lại. Hai cuốc. Hai lần tôi rời chỗ đứng chưa tới nửa tiếng thì chỗ đó đổ máu. Một người chết ở cái bàn của tôi. Hai người bị thương ở cái lề của tôi. Còn bà bán xôi thì nhìn tôi như nhìn người bà chờ lâu rồi mới tới.
Tôi mở điện thoại coi lại lịch sử cuốc. Cuốc đêm qua, điểm đến ghi Không rõ địa chỉ, mà tôi đã thả cô xuống đúng cái hẻm không bảng số này. Hai thứ không có tên, khớp nhau.
Hữu nói tôi được người khuất mặt độ. Nó nói nên mua trái cây, mua nhang, ra chỗ gốc gòn đó cúng một mâm, tạ ơn. Tôi nghe mà thấy sai sai. Người ta độ mình thì sao người khác phải chết thế chỗ.
Tối đó tôi không chạy. Tôi nằm trên nệm, quạt quay kẽo kẹt, Hữu đi chạy một mình. Tôi nghe tiếng xe máy ngoài hẻm thưa dần, tiếng chó sủa bên kia đường, tiếng ván gác kêu khi tôi trở mình. Tôi thiếp đi lúc nào không hay.
Tôi mở mắt vì im. Con chó bên kia đường thôi sủa giữa chừng, như bị ai bóp mõm. Cái quạt vẫn quay mà gió thổi ra lạnh, ẩm, có mùi bùn. Điện thoại tôi tắt ứng dụng, để im trên sàn.
Nó sáng màn hình.
Không có tiếng chuông, chỉ sáng. Trên màn hình là một cuốc. Khách. Điểm đón trên khoảng trắng. Điểm đến: chợ Thủ Đức. Hai mươi hai ngàn. Nút nhận đếm ngược mười lăm giây.
Tôi nằm nhìn nó đếm. Mười. Chín. Tám. Tôi nghĩ tới anh Lộc ngồi vào cái bàn trống của tôi. Nghĩ tới hai anh dưới cây bàng. Nếu tôi không đi, đêm nay ai ngồi vào chỗ của tôi.
Ba. Hai.
Tôi với tay lấy điện thoại.