☾ Truyện Ma Có Thật
← Cữ cám chín giờ

Chương 8: Chuyện dì Út kể

Khoảng 5 phút đọc·11lượt xem

Sáng đó tôi lên ghe dì Út, không mua gì. Tôi ngồi xuống, kể hết. Từ cây cột căm xe chú Hai Thạch gắn cho, cái vết lõm, tới đêm qua. Dì Út nghe, không ngắt, tay vẫn xếp mấy bao cám. Kể xong, tôi hỏi:

"Ông Bảy chết rồi phải không dì."

Dì Út ngồi xuống. Dì rót trà, mà tay dì run làm trà đổ ra khay. Dì nói, chú ngồi đó, dì kể, kể một lần thôi, kể xong chú đừng hỏi dì nữa.

* * *

Năm 2008 vợ ông Bảy chết vì bệnh gan, chôn trên bờ. Con Thắm bỏ bè lên Bình Dương làm công nhân, nó không chịu nổi cái bè, mùi cá, nợ nần. Ông Bảy ở lại một mình. Đêm nào ổng cũng ra rải cám. Khúc sông sống. Hai chục bè sống nhờ ổng mà không ai nói cảm ơn, vì nói ra thì phải tin, mà tin thì sợ.

Tháng Chín năm 2009, con Thắm về bè chơi mấy bữa. Nó chèo xuồng đi chợ, xuồng lật ở ngay dưới chân cầu. Chỗ đó nước sâu, xoáy. Người ta vớt nó lên được, sống, nhưng nó nằm bất tỉnh hai ngày ở trạm xá, thở không ra hơi, da tím. Bác sĩ nói uống nước nhiều, phổi nhiễm, chưa chắc qua.

Ông Bảy không ở trạm xá. Ổng về bè, tối vẫn ra rải cám, rồi ngồi ở mé lồng tới sáng, nói chuyện với sông. Dì Út lúc đó chèo ghe ngang, nghe ổng nói. Dì không nghe rõ hết, dì chỉ nghe ổng lặp đi lặp lại một câu: tui ở lại, tui canh cho cả khúc này, tui không đi đâu hết, đổi lại tụi bây tha con nhỏ. Tha nó, đừng kéo nó về đây nữa, cho nó đi luôn, đi đâu cũng được, miễn đừng về sông.

Sáng hôm sau con Thắm tỉnh. Hai bữa sau nó về bè, ông Bảy đuổi nó đi, kêu nó lên Bình Dương, đừng bao giờ về nữa, đừng về đám ma ổng cũng được. Con Thắm khóc, đi.

Ba đêm sau, ngày mười bốn tháng Mười, cá bè ông Bảy chết trắng. Một mình bè ổng. Mười chín bè khác không sao.

"Tại sao dì?"

"Tụi nó lấy. Lấy hết cá ổng... cho ổng hết đường níu bên này. Dì nghĩ vậy thôi. Chớ dì biết gì."

Sáng hôm sau ổng ghé ghe dì, mua năm bao cám. Dặn câu đó. Đừng ai dỡ cây cột đèn của tui. Rồi ổng về.

Ba ngày không ai thấy ổng. Dân bè tưởng ổng buồn, bỏ đi Bình Dương với con. Đêm nào đèn cũng sáng, cám cũng rải, nên không ai nghi. Ngày thứ tư anh Sang qua mượn cái gì đó, thấy ổng.

Dì Út dừng. Dì uống trà. Rồi dì nói, nhỏ, nhìn xuống sàn ghe:

"Ổng treo trên cây cột đèn. Dây neo. Ba ngày, nước trở, nóng. Dây xiết vô cột lõm một vòng. Dây xiết vô cổ ổng cũng một vòng. Hai cái vòng đó ngang nhau."

Tôi ngồi im. Tôi nghĩ tới cái vết lõm tôi lau mỗi sáng, sờ mỗi sáng, ướt mỗi sáng. Tôi nghĩ tới con Na ngồi dưới chân cột nói chuyện với ông. Tôi nghĩ tới cái cổ dưới ánh đèn bình đêm qua.

"Con Thắm về chôn ổng. Chôn cạnh má nó trên bờ. Rồi nó bán bè. Nó kêu thằng Hai Thạch, nó cần tiền gấp, nó không muốn nhìn cái bè đó thêm một ngày. Thằng Thạch mua rẻ như cho."

"Nó cưa cây cột, nói cột căm xe bỏ uổng. Nó tháo luôn mấy thùng phuy còn tốt. Rồi nó đem cây cột gắn qua một cái bè khác nó mua lại của người ta, kéo lên phía trên ba chục thước, sơn sửa. Bán cho một thằng ở Định Quán mới xuống, không biết gì."

Dì ngẩng lên nhìn tôi.

"Là chú."

* * *

Tôi hỏi dì, giọng không còn là giọng tôi, tại sao đèn vẫn sáng sau khi ổng chết.

"Ổng hứa rồi. Ổng giữ lời."

"Còn cây cột?"

"Người ta nói... chết treo thì ở chỗ treo. Cột đi đâu ổng theo đó. Tới cữ ổng qua bè cũ rải, xong ổng về. Con nhỏ nhà chú thấy ổng ngồi trên cột... là thiệt đó."

"Rồi tôi cưa."

"Chú cưa, chú quăng sông. Chú đem ổng xuống sông. Xuống đó là chỗ tụi nó. Ổng ở dưới đó với tụi nó thì ổng lên rải cám bằng gì. Đèn tắt. Tụi nó đói. Tụi nó lấy cá chú, vì cột ổng ở bè chú, tụi nó tới bè chú trước."

Tôi hỏi, giờ phải làm sao. Dì Út đứng dậy, vác một bao cám hạt to đặt lên xuồng tôi. Dì nói:

"Kéo cột lên. Dựng lại chỗ cũ. Rồi chú tự biết."

Tôi hỏi, dì biết chuyện này hết, sao dì không nói với tôi từ bữa đầu. Dì Út nhìn tôi, nhìn lâu, rồi dì nói một câu mà tôi nghĩ mãi tới giờ:

"Nói thì chú cưa sớm hơn."

* * *

Tôi về bè lúc trưa. Tôi không chờ tối. Tôi lần theo dây neo, kéo.

Dây nặng. Nặng hơn một cây cột căm xe dài ba thước. Tôi kéo từng sải, bè nghiêng theo. Cây cột trồi lên khỏi mặt nước, đen, bám đầy bùn và rễ lục bình, nước đục chảy ròng ròng.

Tôi kéo lên sàn, rửa bùn. Cả thân cột bám bùn đen, riêng vết lõm thì sạch trơn, như có ai mới chùi.

Và quanh vết lõm, thắt chặt vào đúng chỗ lõm, có một sợi dây neo cũ. Dây dừa, bạc màu, mục một nửa. Thắt nút chết, kiểu thắt của dân bè, rất chắc. Một đầu dây cắt ngang bằng dao, đầu còn lại buông xuống, dài chừng hai thước, ướt nhẹp.

Tôi đã cột cây cột xuống sông bằng dây ni lông xanh của tôi. Dây ni lông vẫn còn ở chân cột.

Sợi dây dừa này tôi không cột.