Chương 1: Ván ghép từ bản cũ
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Tháng Mười năm 1999, đội tôi được giao đo kiểm tra một dị thường từ ở xã Nậm Pá, huyện Bát Xát, Lào Cai. Trên bản đồ, dị thường ấy là một vệt đỏ nằm vắt qua sườn núi, phía trên con suối cùng tên với xã. Người ta nghi dưới đó có quặng đồng. Đội năm người, hai mươi ngày, một máy kinh vĩ, búa, thước dây, cọc gỗ sơn đỏ và gạo đủ ăn.
Tôi hai mươi bốn tuổi, học trung cấp trắc địa ra được hai năm, quê Lâm Thao, Phú Thọ. Đội trưởng là anh Lâm, kỹ sư địa chất, hơn bốn mươi, đi Tây Bắc nhiều hơn ở nhà. Anh Quý là thợ khoan, ba lăm tuổi, hút thuốc lào kêu như xé vải. Thằng Dũng hai mươi, công nhân hợp đồng, mới đi chuyến thứ hai. Và ông Phủ.
Ông Phủ năm ấy bốn mươi sáu, đi địa chất từ năm mười tám tuổi, lâu năm nhất liên đoàn. Người gầy, da sạm, trông già hơn tuổi, ít nói, làm gì cũng chậm mà chắc. Chuyến này đáng ra ông không phải đi, liên đoàn đã xếp ông coi kho ở trạm vì sức yếu. Nhưng ông lên gặp anh Lâm xin đi. Anh Lâm kể, ông ấy xin như người ta xin một việc lớn, đứng thẳng, hai bàn tay nắm vào nhau.
Họ tên ông trong sổ lương là Hoàng Văn Phủ. Có lần tôi nghĩ, Phủ không phải tên người Kinh hay đặt. Nghĩ thế rồi thôi.
* * *
Từ đường ô tô vào xã rồi lên điểm đo mất gần một ngày đi bộ. Xã thuê cho chúng tôi một người dẫn đường kiêm cõng gạo, ông Sùng Seo Lử, người Mông ở bản mới Nậm Pá, ngoài năm mươi. Ông bảo chỗ gần tuyến đo nhất có nước và đất phẳng là bãi dưới bản Sín Chải cũ.
"Bản cũ là sao hả bác?"
"Bản bỏ. Bỏ lâu rồi. Dịch."
Ông nói thế rồi đi trước. Tôi hỏi dịch gì, ông làm như không nghe.
Bãi đất ấy nằm bên suối, cách bản cũ chừng ba trăm thước theo một lối mòn cỏ mọc kín lên đồi. Từ bãi nhìn lên thấy mấy nóc nhà gỗ xám đen sau một rặng đào rừng và sa mộc, mái võng xuống, có cái đã sập hẳn. Không khói, không tiếng chó, không tiếng gà.
Chúng tôi dựng lán buổi chiều. Khung bằng cây vầu chặt tại chỗ, mái căng bạt xanh, sạp nằm bằng tre đập dập. Vướng mỗi cái hiên. Anh Lâm muốn có một mảng sàn nhỏ trước cửa để ngồi ăn cơm, để dép, để máy móc khỏi dầm sương. Lót bằng nứa đập thì mất thêm nửa buổi.
Anh Quý và thằng Dũng nhìn lên bản cũ.
"Trên kia khối ván. Nhà sập rồi thì ván để làm gì."
Ông Phủ đang đóng cọc, dừng tay. Ông nói không được lấy. Giọng không to, nhưng là giọng tôi chưa nghe ở ông bao giờ, như người ta ngăn một đứa trẻ sắp thò tay vào lửa.
Anh Lâm bảo, bác cứ kiêng thế, nhà hoang mấy chục năm, gỗ chứ có phải xương người đâu. Ông Phủ nhìn anh Lâm một lúc, rồi cúi xuống đóng cọc tiếp, không nói gì nữa. Ông Lử lúc ấy đã về bản mới. Ông không ngủ lại đêm nào.
Quý và Dũng lên bản cũ, khiêng xuống sáu tấm ván pơ mu dài gần hai thước, đen bóng khói bếp, một tấm còn nguyên cái ngưỡng cửa đục mộng. Họ ghép thành cái hiên rộng bằng một chiếc chiếu đôi, cao hơn mặt đất một gang. Ván cũ mà chắc, dẫm lên không kêu.
Ông Phủ không bước lên hiên cho đến khi trời tối hẳn. Khi lên, ông đi vòng, đặt chân vào mép ván ngoài cùng, như người ta đặt chân lên chỗ không phải của mình.
* * *
Tối ấy cơm xong, chúng tôi để dép ở mép hiên theo thói quen đi rừng. Mỗi người một đôi, xếp thành hàng, mũi dép quay vào lán. Dép anh Lâm quai hậu da nâu. Dép anh Quý tổ ong trắng ngả vàng, đế mòn vẹt một bên. Dép tôi dép rọ xanh rêu, loại bộ đội. Dép thằng Dũng dép Lào xanh, một quai đứt buộc dây thép. Dép ông Phủ dép lê nhựa đen, cũ đến mức mặt dép in rõ hình bàn chân ông.
Trong lán, chỗ nằm xếp theo thứ tự ấy. Anh Lâm trong cùng, rồi Quý, rồi tôi, rồi Dũng. Ông Phủ nằm ngoài cùng, sát cửa. Ông bảo già rồi hay dậy đêm.
Đêm đầu tiên tôi ngủ say. Tôi chỉ nhớ có lúc tỉnh dậy vì lạnh gáy, thấy ông Phủ ngồi ở cửa lán, lưng quay vào trong, đốm thuốc đỏ trong bóng tối.
Sáng ra, tôi dậy thứ hai, sau ông Phủ. Sương xuống trắng cả bãi, mặt hiên đọng một lớp sương mỏng như rắc bột. Tôi ngồi ở mép hiên thò chân xuống tìm dép.
Chân tôi chạm vào đôi tổ ong của anh Quý.
Tôi nhìn sang. Đôi dép rọ của tôi nằm ở chỗ anh Quý, đúng vị trí, mũi quay vào lán, ngay ngắn như chính tôi đặt. Đôi tổ ong của anh nằm ở chỗ tôi. Ba đôi kia vẫn nguyên. Hai đôi đổi chỗ cho nhau, không lệch một phân.
Tôi gọi anh Quý. Anh ngó ra, cười, bảo thằng Dũng nghịch. Dũng vùng dậy cãi, nó ngủ như chết, biết gì. Anh Lâm bảo thôi, dép ai nấy xỏ.
Tôi định xỏ dép thì thấy một điều nữa. Trên lớp sương đọng ở mặt hiên, từ mép ngoài cùng đi vào chỗ để dép, có một vệt sạch. Hẹp. Dài bốn gang tay. Như có ai đi chân trần từ sân lên, đến hàng dép, rồi quay ra. Bàn chân nhỏ. Tôi ướm chân xuống, thừa ra một đốt ngón tay mỗi bên.
Tôi chưa kịp nói thì ông Phủ từ suối lên. Ông nhìn hàng dép. Ông nhìn vệt sạch trên sương. Ông đặt ấm nước xuống, cầm đôi dép của tôi và đôi của anh Quý đổi lại chỗ cũ. Ông làm chậm, bằng hai tay, từng chiếc một.
Rồi ông nói, không nhìn ai:
"Dép để ở hiên thì mũi quay vào nhà. Đứa nào để quay ra thì tôi quay lại đấy. Nhớ cho."
Không ai để quay ra cả. Tôi định nói thế. Nhưng ông đã đi vào trong, và sương trên hiên đã bắt đầu tan.