Chương 3: Vết chân trong sương
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Anh Lâm quyết để dép ngoài hiên như cũ. Anh nói, trong lán mà nó còn đổi được thì để đâu cũng thế, thà để ngoài cho đỡ bẩn chỗ nằm. Anh nói bằng giọng của người đang nói về một việc không liên quan đến mình. Tôi hiểu. Anh có năm người và mười bảy ngày nữa, và một cái dị thường từ trên bản đồ không tự đo được.
Thằng Dũng bắt đầu ngủ co, mặt quay ra cửa. Anh Quý vẫn đùa, nhưng đùa ít hơn và hút nhiều hơn.
Còn tôi, tôi để ý ông Phủ. Tôi không nói với ai. Tôi chỉ nhìn.
* * *
Chiều ngày thứ tư, tôi với ông Phủ xuống suối tắm. Suối Nậm Pá mùa ấy cạn, nước lạnh buốt, trong đến mức nhìn rõ từng viên cuội. Chúng tôi tắm ở một vũng dưới gốc cây vả, nước đến ngang bụng.
Ông Phủ cởi áo. Người ông gầy, xương sườn hằn, da lưng sạm đen vì nắng ba mươi năm. Và trên cổ ông có một cái vòng bạc.
Vòng mỏng, tròn, bằng bạc đã xỉn, loại người Mông đeo cho trẻ con để giữ vía. Nó chật. Chật đến mức hằn vào da cổ ông thành một đường rãnh, thịt hai bên rãnh dày lên ôm lấy nó. Vòng ấy đã ở trên cổ ông lâu lắm rồi, lâu đến mức cái cổ đã lớn lên quanh nó.
Tôi hỏi, bác đeo vòng à. Ông cúi xuống vốc nước lên mặt.
"Mẹ tôi đeo cho từ bé. Giờ không tháo được nữa. Mà tháo làm gì."
Tôi hỏi quê bác ở đâu. Hỏi cho có chuyện, vì đứng trong nước lạnh với một người không nói gì thì khó chịu lắm.
"Trại trẻ Yên Bái. Trước nữa thì tôi không nhớ."
Ông nói xong thì lặn xuống nước, ngâm rất lâu, tôi đếm được đến ba mươi. Khi ngoi lên ông không nói gì nữa, và tôi cũng không hỏi nữa. Lúc mặc áo ông kéo cổ áo lên rất kỹ, cài cả cúc trên cùng.
* * *
Sáng ngày thứ năm, sương xuống dày hơn mọi hôm. Dép đổi chỗ, lần này là dép anh Quý sang chỗ ông Phủ và dép ông Phủ sang chỗ anh Quý. Không ai nói gì. Việc ấy đã thành như việc gà gáy.
Nhưng cái vệt trên sương thì khác.
Hôm nay nó không còn là một vệt quệt mờ. Hôm nay sương đọng dày, lạnh, bám thành hạt trên mặt ván đen, và trên lớp hạt ấy in rõ từng dấu chân. Bàn chân trần. Năm ngón, gót tròn, lòng bàn chân lõm. Bàn chân của một đứa trẻ chừng năm, sáu tuổi. Dấu đi từ mép hiên vào hàng dép, dừng lại ở đó rất lâu vì chỗ ấy sương bị quệt loang ra, rồi đi ra.
Dấu chân không dừng ở mép hiên. Nó bước xuống sân.
Cỏ bãi ướt sương bạc trắng. Và trên nền bạc trắng ấy có một đường sẫm, hẹp bằng một bàn chân, cỏ bị đạp rạp xuống và rũ hết sương, đi thẳng từ hiên lán ra lối mòn lên bản cũ.
Tôi đi theo nó. Tôi không nghĩ gì cả, chân tự đi. Anh Lâm gọi tôi, tôi không quay lại. Đường sẫm ấy đi qua bãi, qua chỗ ông Lử hay ngồi, vào lối mòn. Đến chỗ lối mòn chui vào dưới rặng sa mộc thì sương trên cỏ thưa đi và tôi không nhìn thấy nó nữa. Trước mặt tôi là bóng tối xanh của rừng và cái dốc lên bản.
Tôi đứng đó. Trên kia im lặng. Không một tiếng chim.
Rồi tôi nghe tiếng ông Phủ gọi tôi từ bãi. Ông gọi tên tôi hai lần, gọi to, mà ông Phủ thì không bao giờ gọi ai to cả. Tôi quay xuống.
Ông đứng ở mép sân đợi tôi. Mặt ông không có gì. Ông chỉ nói:
"Đừng đi theo cái gì lên trên ấy một mình. Đi tuyến thì đi cả đội."
* * *
Ngày hôm ấy chúng tôi đo tuyến thứ bảy. Thằng Dũng cầm thước dây mà tay run, số đọc ra sai hai lần, anh Lâm phải quát. Anh Quý phát tuyến chặt mạnh hơn cần thiết, mỗi nhát dao nghe như chém vào cái gì đó. Đến tối ai cũng mệt rã, và cái mệt làm người ta bớt sợ.
Lúc cơm xong, trời còn sáng lờ mờ, anh Lâm lấy ống nhòm ra lau. Anh có thói quen ấy, lau ống nhòm trước khi tối. Lau xong anh đưa lên mắt nhìn bâng quơ về phía bản cũ.
Anh nhìn lâu hơn bình thường. Rồi anh đưa ống nhòm cho tôi, không nói gì.
Tôi nhìn. Mấy nóc nhà xám đen sau rặng đào. Mái võng. Mái sập. Và từ một nóc nhà ở giữa bản, nóc nhà còn nguyên nhất, một sợi khói mỏng đang lên.
Khói xanh, mảnh như sợi chỉ, lên thẳng. Lên thẳng rất cao rồi mới tản ra. Khói bếp. Khói củi khô, của một bếp lửa nhỏ, được người ta chụm cẩn thận.
Tôi đưa ống nhòm cho anh Quý. Anh Quý nhìn rồi đưa cho thằng Dũng. Dũng nhìn rồi bỏ ống nhòm xuống, không đưa cho ai.
Ông Phủ không cầm ống nhòm. Ông đứng ở mép hiên nhìn lên bằng mắt thường. Mắt ông nheo lại, không phải vì nhìn xa, mà như người ta nheo mắt khi nhìn vào bếp lửa.
"Sương thôi. Chiều tối sương bốc lên từ mái."
Anh Lâm nói sương không lên thẳng như thế. Ông Phủ không cãi. Ông cúi xuống xếp lại hàng dép ở mép hiên, năm đôi, mũi quay vào lán, thẳng tắp. Việc ấy ông làm mỗi tối.
Trên kia sợi khói vẫn lên. Người ta chỉ chụm một bếp lửa như thế khi có ai ngồi cạnh nó.