Chương 9: Mũi dép quay ra rừng
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Ngày cuối cùng trên tuyến, ông Phủ ngã.
Ông đòi đi, nói mốc cuối phải đủ người mới đóng nhanh được. Anh Lâm không cản nổi. Đến trưa, đang đóng cọc ở lưng chừng dốc, ông đứng dậy, bước hai bước, rồi quỵ xuống cỏ, nhẹ như một cái áo tuột khỏi dây phơi. Người ông nóng như hòn than. Tôi với anh Lâm thay nhau cõng ông về bãi. Ông nhẹ đến phát sợ. Cõng ông trên lưng tôi thấy xương vai ông cấn vào gáy mình, và trong áo ông cái vòng bạc nóng lên theo da.
Anh Lâm đóng nốt mốc cuối một mình, về lúc tối mịt. Tôi ở lán với ông Phủ. Tôi chườm khăn, đổ nước đường, đổ thuốc hạ sốt của đội. Ông mê. Ông nói tiếng Mông trong cơn mê, liên tục, nhỏ, giọng khi thì năn nỉ khi thì dỗ dành. Có lúc ông gọi mẹ. Tiếng mẹ trong tiếng Mông tôi không biết, nhưng cái cách người ta gọi mẹ lúc ốm thì tiếng nào cũng giống nhau.
Anh Lâm về, hai anh em thay nhau ngồi với ông. Gần sáng cơn sốt hạ. Ông thở đều hơn. Anh Lâm gục xuống ngủ ngay cạnh ông, còn tôi ngồi dựa cột, định chỉ nhắm mắt một lát.
Tôi tỉnh dậy lúc trời đã sáng bạc.
* * *
Tôi ra hiên. Tôi ra hiên như mọi sáng, không nghĩ gì, tay còn dụi mắt.
Ba đôi dép. Dép anh Lâm ở chỗ anh Lâm, mũi quay vào. Dép ông Phủ ở chỗ ông Phủ, mũi quay vào. Dép của tôi ở chỗ của tôi.
Mũi quay ra.
Hai chiếc dép rọ xanh rêu đặt sát nhau, gót chạm vào cửa lán, mũi hướng ra sân, hướng thẳng về đầu lối mòn lên bản, chỗ rặng sa mộc. Đặt ngay ngắn. Đặt cẩn thận. Đặt như cách người ta đặt dép cho một người vừa nằm xuống, để hồn người ấy biết lối mà đi.
Tôi đứng đó. Tôi không biết bao lâu. Tôi nhớ chân mình lạnh và tôi không nhấc được chân. Tôi nhớ tôi nghĩ một câu rất ngu, là mình chưa chết mà.
Sau lưng tôi có tiếng ván kêu. Ông Phủ. Ông bò ra được đến cửa, bám cột đứng lên. Mặt ông xám. Ông nhìn xuống đôi dép của tôi.
Ông nhắm mắt. Ông đứng như thế, nhắm mắt, lâu. Rồi ông mở mắt, cúi xuống, quay đôi dép rọ lại, mũi vào lán. Lần này ông chỉ còn sức cầm bằng một tay, chiếc kia phải lấy mu bàn tay gạt cho nó xoay. Xong ông ngồi phịch xuống mép hiên, thở.
"Hôm nay anh đừng đi đâu một mình. Đừng ra suối. Đừng lên tuyến. Ở đây với tôi."
Tôi hỏi, giọng mình nghe lạ:
"Bác. Đêm qua ai làm?"
Ông không trả lời. Ông nhìn lên đầu lối mòn. Sương đang tan ở đó, rặng sa mộc hiện dần ra, đen và thẳng.
"Không phải tôi. Tôi chưa bao giờ quay dép ra cho ai. Chưa bao giờ."
* * *
Anh Lâm dậy, thấy chúng tôi ngồi ở hiên, hỏi. Tôi kể. Anh nghe xong đứng dậy, đi vào gấp bản đồ, gấp sổ, buộc hòm máy, động tác nhanh và gọn như người đang đóng gói để chạy. Rồi anh nói anh xuống xã. Thuê người cõng đồ lên, thuê người cáng ông Phủ, gọi y sĩ. Đi ngay, chiều về, mai xuống hết.
"Hai người ở lán. Đóng gói. Không ai đi đâu."
Anh nhìn tôi lúc nói câu cuối. Rồi anh đi. Lưng anh khuất xuống dốc lúc tám giờ.
Hai chúng tôi gói đồ cả buổi sáng. Ông Phủ yếu, nhưng ông không chịu nằm. Ông gấp bạt, cuộn dây, gói mẫu, và cứ một lúc lại nhìn lên lối mòn. Tôi làm theo ông, nhìn theo ông.
Đến trưa ông bảo tôi ngồi xuống hiên. Ông cầm đôi dép rọ của tôi lên, lật xem. Một bên quai đã sờn, chỉ còn mấy sợi. Ông lấy đoạn dây thép, kìm, ngồi khâu lại cái quai cho tôi. Ông làm chậm, kỹ, như người ta sửa dép cho con trước khi nó đi học xa. Tôi ngồi nhìn tay ông. Tay ông run, nhưng mũi dây thép không trượt lần nào.
"Bác."
"Ừ."
"Quai này sắp đứt từ lâu rồi. Sao giờ bác mới sửa?"
Ông không ngẩng lên.
"Giờ mới cần đi xa."
* * *
Chiều, mưa.
Mưa núi lại đến như hôm trước, trút xuống, và suối gầm lên trong vòng nửa giờ. Tôi đứng ở mép bãi nhìn dòng nước đỏ ngầu lao qua chỗ lội. Không ai lội qua được cái này. Anh Lâm không về được tối nay. Tôi biết. Ông Phủ biết.
Trời tối. Mưa tạnh. Sương lên.
Ông Phủ đun một nồi nước to. Ông múc ra chậu, đem ra sau lán tắm, lâu. Tôi nghe tiếng nước dội, từng gáo một, chậm. Ông vào, mặc cái áo sơ mi sạch nhất mang theo, cái áo trắng ông chưa mặc lần nào trong chuyến này.
Ông ngồi trước đèn dầu, lấy dao cạo cạo râu, soi bằng mảnh gương bé bằng bàn tay. Cạo xong ông kéo cổ áo ra, và lần đầu tiên tôi thấy ông để cái vòng bạc lộ ra ngoài cổ áo. Ông ngồi thẳng. Ông nhìn rất khác. Như một người sắp đi đâu đó có hẹn.
Tôi hỏi bác làm gì thế. Ông bảo:
"Tối nay tôi có chuyện phải nói với anh. Anh ăn cơm đi đã."
Ông bới cơm cho tôi. Rồi ông bới một bát nữa. Bát bé, cái bát sắt tráng men đội vẫn dùng đựng muối. Ông đơm cơm vào, nén nhẹ cho tròn, gác lên một đôi đũa, rồi bưng ra mép hiên, đặt xuống ván, ngay chỗ để dép. Bát cơm bé, kiểu bát của trẻ con.
Ông ngồi xuống cạnh nó, quay mặt ra sân, chờ.