Chương 1: Tiếng chuông lẻ
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Tiệm của tôi nằm trong một con hẻm thông ra đường Nguyễn Trãi, Quận 5, cách chợ An Đông chừng năm trăm thước. Bảng hiệu bằng tôn sơn tay, chữ đã tróc, đề Sửa đồng hồ Tư Khánh. Ba tôi học nghề ở một tiệm người Hoa trên đường Đồng Khánh từ trước giải phóng, sau về mở tiệm này, rồi truyền cho tôi. Năm 2004 tôi bốn mươi hai tuổi, đã cầm cái kính lúp một mắt được hai mươi lăm năm.
Tiệm rộng chừng ba thước, sâu sáu thước, gác lửng ở trên là chỗ vợ chồng tôi với con nhỏ ngủ. Hai bên tường treo kín đồng hồ của khách. Đồng hồ quả lắc, đồng hồ cúc cu, đồng hồ tròn hiệu Seiko chạy pin, đồng hồ tủ đứng của một ông ở Phú Nhuận gửi sửa rồi đi nước ngoài luôn. Bàn thợ kê sát cửa kính để lấy sáng, trên bàn có cái đèn bàn cổ cò, hộp dầu, nhíp, tua vít đủ cỡ cắm trong ống tre.
Người ngoài vô tiệm hay than nhức đầu. Mấy chục cái đồng hồ cùng chạy, tiếng tích tắc chồng lên nhau, không cái nào ăn nhịp với cái nào, nghe như mưa rơi trên mái tôn. Tôi thì quen. Tôi nghe được từng cái một. Tiệm vắng khách, tôi ngồi nhắm mắt, nghe cái nào hụt một nhịp là biết cái đó sắp phải lên bàn.
Ba tôi hồi còn sống hay nói, đồng hồ có hai thứ bệnh. Bệnh của máy thì thợ sửa được. Bệnh của nhà thì phải trả về cho nhà. Tôi tưởng ông nói chuyện ẩm mốc, mối mọt, treo lệch tường. Về sau tôi mới hiểu ông nói chuyện khác.
* * *
Chiều đầu tháng Năm, mưa đầu mùa trút xuống lúc hai giờ, hẻm ngập tới mắt cá. Mưa vừa ngớt thì có tiếng xe cúp tắt máy trước cửa. Một người đàn ông bước vô, ôm trước ngực một gói dài bọc trong mền, nước mưa ướt hết vai áo.
Anh ta chừng ba lăm tuổi, người ốm, mặc áo sơ mi dài tay bỏ trong quần, đầu tóc chải gọn. Giữa trời Sài Gòn tháng Năm mà mặc áo dài tay, tôi để ý vậy thôi. Anh ta nói nhỏ nhẹ, xưng tên là Danh, nhà ở Gò Vấp, nghe người ta chỉ xuống đây.
"Đồng hồ nhà cậu tôi. Nó dừng, sửa hoài không chạy. Anh coi giùm."
Tôi mở mền ra. Một cái đồng hồ quả lắc treo tường hiệu Ô-đô, máy Pháp, chắc đời những năm năm mươi. Vỏ gỗ nâu sậm, mặt số men trắng rạn chân chim, hai cây kim thép đen thanh mảnh. Quả lắc bằng đồng đã xỉn, dây treo còn nguyên. Loại này tám ngày lên dây một lần, gõ nhạc mỗi mười lăm phút, tiếng rất trong.
Hai cây kim dừng ở ba giờ mười lăm. Kim giờ vừa qua số ba một chút, kim phút nằm ngay số ba, gần chồng lên nhau. Nhìn như hai bàn tay chắp lại.
"Dừng lúc ba giờ mười lăm hả?"
"Dạ. Lúc nào cũng chỗ đó. Lên dây, đẩy quả lắc, chạy được một chặp... rồi dừng y chỗ cũ. Tiệm trên Gò Vấp sửa một tháng, trả."
Tôi kéo cái đồng hồ lại gần, lật mặt sau mở nắp coi máy. Trong lúc tôi coi, anh ta không ngồi cái ghế đẩu tôi đẩy ra mời. Anh ta đi vòng ra sau lưng tôi, đứng đó. Đứng im, hai tay buông thõng. Tôi cảm thấy ánh mắt anh ta trên gáy mình, như có ai để một ngón tay lạnh ở đó.
Tôi quen khách đứng coi thợ làm. Nhưng người ta đứng bên hông, chồm đầu vô ngó máy. Không ai đứng ngay sau lưng, không nói gì, cũng không nhìn cái đồng hồ. Tôi quay lại một lần, thấy anh ta đang nhìn gáy tôi thiệt. Thấy tôi quay, anh ta cười, dời mắt đi chỗ khác.
Máy nhìn sơ không thấy gì lạ. Cót còn, dây treo không gãy, con ngựa không mẻ. Tôi nói để tôi tháo ra rửa sạch, lên dầu, coi lại dây treo, chừng một tuần. Anh ta gật, đưa tiền cọc, hai tờ năm chục ngàn loại giấy nhựa mới phát hành, còn thẳng nếp. Anh ta không có điện thoại, ghi cho tôi số của một quán cà phê gần nhà, dặn có gì gọi tới nhờ kêu.
Trước khi ra cửa, anh ta quay lại dặn thêm một câu. Giọng vẫn nhỏ nhẹ, nhưng rõ từng chữ.
"Anh treo nó cao vừa tầm mắt người ngồi, đừng treo cao quá. Nó quen vậy."
Tôi ừ cho qua. Đồng hồ treo cao thấp gì mà quen.
* * *
Tối đó tôi dọn chỗ trên tường, chỗ gần bàn thợ nhất, tháo cái đồng hồ cúc cu xuống để lấy đinh. Tôi treo cái Ô-đô lên, chưa đụng tới máy, chưa lên dây, chưa đẩy quả lắc. Quả lắc rủ thẳng, im. Tôi tính sáng mai mới tháo.
Vợ tôi dọn cơm trên gác lửng kêu xuống. Tôi tắt đèn bàn thợ, với tay kéo cửa kính.
Cái đồng hồ gõ một tiếng.
Một tiếng thôi. Không phải tiếng nhạc bốn nốt. Chỉ một tiếng boong, trầm, tròn, kéo dài trong tiệm tối rồi tắt. Mấy chục cái đồng hồ trên tường vẫn tích tắc như không có gì.
Tôi đứng yên. Quả lắc vẫn rủ thẳng. Hai cây kim vẫn chồng lên nhau ở chỗ cũ. Đồng hồ không chạy thì không có gì kéo búa gõ. Tôi nói với mình, búa gõ kẹt từ hồi nào, mình treo lên nó xóc một cái, nó buông.
Tôi leo lên gác. Con gái tôi đang viết bài, vợ tôi bới cơm, ti vi mở phim Hàn Quốc tiếng nhỏ. Vợ tôi hỏi, không ngước lên:
"Đồng hồ nào gõ vậy anh? Mới có bảy giờ rưỡi mà."
Tôi nói không biết. Rồi tôi nghĩ, trong tiệm có bảy cái đồng hồ gõ giờ, cái nào cũng gõ nguyên nhạc rồi mới điểm giờ. Không cái nào gõ một tiếng rồi thôi. Và không cái nào tới giờ gõ hết.
Tôi ăn cơm, không nói gì thêm. Nhưng tối đó, trước khi ngủ, tôi làm một việc chưa làm bao giờ. Tôi xuống tiệm, bật đèn, đứng nhìn cái đồng hồ một lúc. Hai bàn tay chắp lại, không nhúc nhích. Rồi tôi quay lưng đi lên, mà cứ có cảm giác quay lưng là đưa gáy cho nó.