☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba giờ mười lăm

Chương 10: Treo lại chỗ cũ

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Tôi gói cái Ô-đô trong cái mền Danh đem tới hôm đầu. Tôi bỏ luôn chiếc nhẫn với cái lắc vô túi áo trong. Tôi khóa tiệm, treo bảng nghỉ, và chở nó lên Gò Vấp. Suốt đường Nguyễn Trãi qua Cách Mạng Tháng Tám lên Nguyễn Kiệm, cái gói đồng hồ ôm trước ngực tôi lạnh như ôm một tảng nước đá bọc vải, dù trời nắng gắt. Xe chạy ngang chợ Gò Vấp, người ta đang dọn hàng chiều, không ai ngó tôi.

Tôi không gọi trước. Nhưng dì Út mở cổng như chờ sẵn. Bà nhìn cái gói, nhìn tôi, rồi mở rộng cổng. Trong nhà có thêm một người đàn bà chừng bốn mươi, mặt giống dì Út, là chị Loan. Và Danh, đứng ở chân cầu thang, hai tay buông.

Tôi treo cái đồng hồ lên bốn vết đinh cũ. Vừa khít, hình chữ nhật sáng trên tường biến mất, như nó chưa từng rời khỏi đó. Tôi cân cho quả lắc rủ thẳng. Tôi không đẩy.

Dì Út nói:

"Để tôi."

Bà đẩy quả lắc. Nó đung đưa ba lần rồi đứng. Bà đẩy lần nữa. Ba lần, đứng. Kim không nhúc nhích. Bà lùi lại, không ngạc nhiên.

Rồi bà quay sang Danh.

"Ngồi xuống đi con."

Danh không nhúc nhích. Chị Loan nói, giọng cứng:

"Ngồi đi Danh. Cả nhà ở đây. Mày muốn nó chạy mà."

Danh nhìn cái ghế mây. Tôi thấy yết hầu anh ta chạy lên chạy xuống. Anh ta bước một bước, dừng. Mồ hôi rịn trên trán dù quạt trần đang quay. Anh ta nói, nhỏ, không nhìn ai:

"Con không ngồi được. Cậu không cho con ngồi."

Dì Út nói, giọng không lớn mà cả phòng im:

"Sao mày biết cậu không cho."

Không ai trả lời. Danh lùi lại sát tường, đúng cái lối đi sát tường bà đã kể. Chị Loan quay mặt đi.

Tôi nói, để tôi thử. Tôi nói vậy vì không khí trong phòng không ai chịu nổi, vì tôi là người ngoài, vì tôi muốn chấm dứt chuyện này để đem vợ con về. Tôi nói với mình như vậy. Dì Út nhìn tôi, gật.

Tôi ngồi xuống cái ghế mây.

Nệm lún xuống vừa dáng tôi, như đã lún sẵn cho một người ngồi lâu năm, và người đó cỡ tôi. Tay dựa mát. Lưng tôi quay ra cửa. Trước mặt tôi, ngang tầm mắt, mặt số men trắng rạn chân chim, hai cây kim chắp lại.

Quả lắc đồng bắt đầu đung đưa.

Không ai đẩy. Tôi chưa chạm vô nó. Nó nhích một li, rồi một phân, rồi quét đều, và tiếng bước chân trên sàn gỗ cất lên trong phòng khách sau hơn ba tháng im. Tích. Tắc. Kim phút tách khỏi kim giờ, chậm, như hai bàn tay chắp lại đang mở ra.

Chị Loan bật khóc. Dì Út quỳ xuống trước bàn thờ, không nói gì, chỉ quỳ. Danh đứng sát tường, mặt trắng, nhìn cái đồng hồ, không nhìn tôi.

Tôi ngồi đó mười phút. Kim phút tới số bốn. Tôi hỏi, giờ tôi đứng dậy được chưa. Dì Út nói, đứng đi. Tôi đứng.

Nó dừng. Quả lắc rủ. Ba giờ hai mươi.

Lần này nó không về ba giờ mười lăm. Nó dừng ở chỗ nó đang đi. Dì Út nhìn cái mặt số rồi nhìn tôi.

"Ảnh chịu anh. Ảnh chỉ chịu anh."

* * *

Họ xin tôi ở lại một đêm. Dì Út nói, trăm ngày là ngày mốt. Đêm nay anh ngồi qua cái giờ đó, nếu nó chạy qua thì sáng mai cả hẻm biết anh Hai đã đi. Nếu không chạy qua thì bà cũng biết phải làm gì.

Tôi nhìn Danh. Danh nói, giọng rất nhỏ:

"Anh ngồi giùm tôi. Tôi trả anh căn nhà cũng được."

Tôi nghĩ tới vợ con ở Bình Chánh. Tôi nghĩ tới cái vết tay bên trong mặt kính. Tôi nghĩ tới ba tôi nói bệnh của nhà thì trả về cho nhà, mà tôi là người đem nó về, vậy tôi còn phải ở lại làm gì. Tôi không biết. Tôi gật.

Dì Út với chị Loan về nhà họ cách đó ba căn, nói tối sẽ qua. Chiều xuống, hẻm lên đèn, tiếng xe máy về nhà, tiếng ti vi nhà hàng xóm. Danh nấu cơm, hai người ăn trong bếp, không nói gì. Trên bàn có dĩa cá kho, tô canh rau, cái gì cũng nguội trước khi ai kịp gắp. Anh ta ăn ít, tay cầm đũa run nhẹ.

Trước khi lên lầu, anh ta dừng ở chân cầu thang. Anh ta không nhìn tôi, nhìn cái ghế mây.

"Anh Tư. Tối nay anh ngồi, có gì cũng đừng quay lại. Cậu Hai không thích người ta quay lại."

Tôi hỏi, sao anh biết cậu anh không thích.

Anh ta đi lên lầu, không trả lời. Tôi nghe tiếng cửa phòng đóng, tiếng chốt cài. Nhà im, quạt trần vẫn quay. Trong phòng khách, cái Ô-đô đứng ở ba giờ hai mươi, chờ tôi ngồi xuống.