Chương 12: Nước về
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Tôi mặc chiếc áo trắng. Mạ buộc hai đôi dây ở vạt trước cho tôi, buộc nút chết, rồi vuốt hai vai áo cho thẳng, như bà Cửu đã vuốt hôm thử áo. Mạ chải tóc tôi lần cuối bằng chiếc lược ướt, chải xong thì đặt nó vào lòng bàn tay tôi, gập các ngón tay tôi lại.
Bà nội ngồi trên giường, quay mặt vào vách. Bà không tiễn tôi ra cửa.
Người làng đứng chật ngõ, mỗi người cầm một bó đuốc tre. Ông Cửu Đạm đi đầu, rồi đến mạ, rồi đến tôi. Chỉ có tiếng đuốc nổ lách tách và tiếng chân trần trên đường đất. Trăng rằm tròn vành vạnh treo trên đầu, vàng như một cái mâm đồng.
Ở miệng giếng, người ta buộc sợi dây thừng của ròng rọc vòng qua nách tôi, thắt nút sau lưng. Ông Cửu đốt ba nén hương, cắm vào kẽ đá ong trên thành giếng, khấn rất lâu. Tôi chỉ nghe được tên mình, lần đầu tiên sau nửa tháng, ông đọc rõ ràng cả họ cả tên, như đọc tên một người trong sổ.
Mạ đứng sát thành giếng. Tay mạ cầm một bó đuốc. Ánh lửa hắt lên mặt mạ, đỏ rực, mà mắt mạ thì khô.
Người ta thả tôi xuống.
* * *
Đáy giếng lạnh hơn hôm tôi xuống với thằng Tâm. Tôi ngồi vào cái hõm ở giữa. Hai đầu gối tôi lọt đúng vào hai cái hõm nhỏ phía trước, như đã có ai đo sẵn cho tôi. Những món đồ nằm quanh tôi. Cái kẹp tóc xanh đã xê dịch khỏi chỗ cũ, nằm sát tới mức chạm vào đầu gối tôi.
Trên cao, miệng giếng là một vòng tròn lửa đỏ, những khuôn mặt cúi xuống nhìn. Rồi sợi dây được kéo lên. Rồi những bó đuốc lần lượt rút đi. Vòng tròn lửa tối dần, chỉ còn lại ánh trăng, rồi trăng cũng ngả, chỉ còn một vòng xám mờ.
Tôi ngồi đó. Tôi không biết bao lâu. Tôi nắm chặt chiếc lược ướt trong tay, lạnh tới mức các ngón tay tôi tê dại.
Rồi trên kia, ròng rọc quay.
Kẽo kẹt, kẽo kẹt, nhanh dần, nhanh như có ai quay tay chứ không còn thả gàu.
Không có dây thừng nào thả xuống. Chỉ có tiếng ròng rọc, và dưới chân tôi, những đường nứt nan quạt bắt đầu rỉ nước. Nước đen, lạnh, chảy dọc các đường nứt, chảy về phía tôi, thấm vào gấu áo, thấm lên đầu gối.
Quanh tôi, những cái đầu người hiện ra. Mỗi cái sau một món đồ. Cúi gằm. Tóc ướt bết. Nước dâng lên tới bụng tôi, tới ngực.
Tôi không đứng dậy. Đứng dậy thì cũng không có chỗ nào để đi.
Có ai đó ngồi xuống sau lưng tôi. Tôi cảm thấy hai đầu gối chạm vào lưng mình, lạnh và mềm như rong. Một bàn tay gỡ chiếc lược ra khỏi tay tôi. Rồi người ấy bắt đầu chải tóc tôi. Chải từ chân tóc xuống ngọn, chậm, từng lọn, đúng như cách mạ vẫn chải.
Nước dâng tới cằm. Tới môi. Sát tai tôi có tiếng con gái thì thầm, hơi thở lạnh tràn vào lỗ tai như nước.
"Chưa phải mi."
Rồi có cái gì đó rơi xuống từ trên cao, rơi rất gần, nước bắn tung lên mặt tôi.
* * *
Tôi tỉnh dậy vì mưa.
Mưa rơi trên mặt tôi, to và nặng hạt, mát lạnh. Tôi nằm ngửa trên nền đá ong cạnh thành giếng, áo trắng ướt sũng. Trời đã sáng, một màu xám chì. Khắp sân giếng, người làng đứng ngửa mặt lên trời, há miệng hứng nước, có người quỳ, có người khóc. Mưa đổ xuống những thửa ruộng nứt nẻ, đất đỏ hút nước kêu xèo xèo như than hồng.
Tôi ngồi dậy, bám vào thành giếng, nhìn xuống.
Nước đầy giếng, gần tới miệng. Nước trong, trong tới mức tôi thấy được những viên đá ong ở thành giếng sâu chừng một sải. Trên mặt nước nổi hai thứ. Một tờ giấy, mực đánh máy đã nhòe thành những vệt tím. Và một chiếc lược nhựa màu đỏ, chiếc lược khô mạ giữ trong túi áo ngực.
Bà nội ngồi bên thành giếng, tóc bạc ướt bết vào má. Trong tay bà nắm một cái kim băng.
Người làng nói mạ tôi tự xuống. Có người nói đêm qua lúc trăng ngả thấy mạ đứng bên giếng, không cầm đuốc. Người ta thả móc mò suốt ba ngày, không thấy gì. Giếng đầy nước trong, uống ngọt lịm, cả làng gánh về ăn.
Tôi không bao giờ uống nước giếng ấy.
Tôi có quay lại đình một lần, trước khi đi Vinh nhập học. Quyển sổ bìa vải xanh vẫn nằm trên hương án. Dòng năm Mậu Dần, tên tôi bị gạch đi. Chỉ một nét, mảnh và thẳng như kẻ thước, không run. Bên cạnh là một cái tên khác, mực khác.
Nguyễn Thị Hạnh, ba mươi chín tuổi. Rằm tháng Bảy. Nước về.
* * *
Bây giờ tôi bốn mươi bốn tuổi, dạy văn ở một trường cấp ba ở Vinh. Bọ tôi từ Lào về sau năm ấy, sống lặng lẽ thêm mười năm thì mất. Bà nội mất năm 2003. Làng Kẻ Dừa đã có nước máy, cái giếng được đậy bằng một tấm nắp bê tông.
Chiếc lược ướt tôi cầm xuống giếng đêm ấy, người làng nhặt được trên thành giếng sáng hôm sau, đưa lại cho tôi. Tôi cất nó trong ngăn kéo bàn làm việc, bọc trong khăn tay. Hai mươi sáu năm, nó chưa bao giờ khô. Lần nào mở khăn ra cũng lạnh và ẩm, tóc vẫn quấn giữa các răng.
Mùa hè năm nay, Hà Tĩnh lại hạn. Ti vi nói gió Lào thổi từ tháng Tư. Con gái tôi mười tám tuổi, vừa thi tốt nghiệp xong.
Tối qua, điện thoại tôi reo. Con trai ông Cửu Đạm, bây giờ là người giữ đình, gọi ra. Giọng anh ta hiền lành, xin ngày giờ sinh của cháu gái, để ghi vào sớ cầu an đêm rằm tháng Bảy. Phía sau giọng anh ta, xa xa, có một tiếng kẽo kẹt đều đều. Tôi đặt máy xuống, không trả lời.
Con gái tôi đang ngồi bên cửa sổ, chải tóc. Nó dùng một chiếc lược nhựa đỏ, sống lược có in hai con chim én. Nó nói tìm thấy trong ngăn kéo bàn tôi.
Dưới chân nó, trên nền gạch hoa, có một vũng nước nhỏ đang loang dần ra.