Chương 1: Mẻ cào đầu tiên
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Tôi tên Tâm, người Đầm Dơi. Năm 2006 tôi mười chín tuổi, học hết lớp chín rồi ở nhà làm vuông với má. Ruộng nhà tôi chuyển qua nuôi tôm từ năm 2001, hai vụ đầu trúng, ba vụ sau tôm chết trắng vuông. Má tôi nợ đại lý thức ăn hơn hai chục triệu. Cậu Út tôi đi bán nước đá ở chợ Năm Căn, về nói có ông chủ ghe cào đang kiếm bạn ghe, trả cao, bao ăn ở. Má gói cho tôi hai bộ đồ với một hũ muối ớt, dặn đi cho có tiền trả nợ rồi về.
Ông chủ ghe tên là Bảy Lượng. Ghe của ông đậu ở vàm Rạch Lùm, chỗ con rạch đổ ra sông Cửa Lớn, cách chợ Năm Căn chừng một giờ máy. Ghe gỗ dài mười hai thước, máy Yanmar hai lốc, mui bằng tôn đã rỉ. Trong mui có hai cái võng, một cái sạp ván, một bếp dầu và cái đài nhỏ chạy pin. Hai cây gọng cào bằng gỗ căm xe gác hai bên hông, dài hơn thân ghe. Miệng cào xếp ở đuôi, lưới xanh đã ngả màu bùn, cái đãy ở cuối lưới to bằng bao gạo.
Ông Bảy ốm, da đen sạm, tóc cắt sát, tai trái nghễnh ngãng nên nói chuyện với ông phải đứng bên phải. Trên ghe có thêm anh Đực, cháu vợ ông, chừng ba mươi tuổi, ít nói, hút thuốc rê liên tục. Anh Đực đeo đôi bao tay vải dày quanh năm, lúc ăn cơm cũng chỉ tháo một bên.
Ông Bảy nhìn tôi từ đầu tới chân, hỏi tuổi, hỏi tuổi con gì, hỏi có biết lội không. Tôi nói mười chín, tuổi Đinh Mão, lội giỏi. Ông gật đầu, rồi hỏi thêm một câu tôi thấy lạ:
"Mày sinh tháng mấy?"
Tôi nói tháng Hai âm lịch. Ông im một lúc rồi nói được rồi, tối nay đi.
* * *
Ghe cào đi đêm. Khoảng năm giờ chiều ông Bảy nổ máy, chạy xuôi sông Cửa Lớn ra hướng cửa Bồ Đề. Sông Cửa Lớn rộng, hai bờ là rừng đước đen kịt. Càng ra gần cửa thì bờ càng lùi xa, nước càng mặn, gió càng rát. Tôi ngồi ở mũi nhìn mặt trời rớt xuống sau đọt đước, đỏ như lòng trứng vịt muối.
Anh Đực chỉ việc cho tôi. Thả cào thì hai người đẩy hai cây gọng ra, thả lưới, canh dây. Cào một dạo chừng một tiếng rưỡi tới hai tiếng. Kéo lên thì quay tời, đưa đãy lên, treo lơ lửng trên sạp. Rồi mở gút đít đãy cho cá đổ ra, lựa cá, lựa tôm, bỏ rác, ướp đá dưới hầm.
"Đổ đãy là việc của mày," ông Bảy nói từ sau tay lái. "Bạn mới thì đổ đãy cho quen tay. Tao với thằng Đực không đụng."
Tôi tưởng đó là lệ của ghe, bạn mới làm việc dơ. Tôi dạ.
Dạo cào đầu tiên kéo lên lúc chín giờ. Tời kêu kin kít, dây cào run bần bật, cái đãy nhô lên khỏi mặt nước đen, nước chảy ròng ròng xuống sạp. Anh Đực rọi đèn bình. Tôi mở gút đít đãy.
Cá đổ ra ào ào. Tôm bạc, tôm đất, cá khoai, cá lưỡi trâu, cua nhỏ, ghẹ, với một đống lá đước, rễ mắm, bọc ni lông. Anh Đực huýt sáo. Anh nói dạo đầu mà vậy là nhiều, bình thường được nửa vầy là mừng.
Tôi quỳ xuống lựa. Tay tôi bốc một nắm tôm, rồi chạm phải một thứ không phải tôm, không phải cá, không phải lá.
Một lọn tóc.
Tóc người, đen, dài, ướt, dài bằng cánh tay tôi từ khuỷu tới đầu ngón. Lọn tóc không rối. Nó được gom gọn lại và cột ngang ở khoảng giữa bằng chính mấy sợi tóc của nó, thắt thành một cái gút nhỏ, chặt, gọn như người ta cột một bó nhang. Kiểu con gái cột tóc khi không có dây thun.
Tôi cầm nó lên dưới ánh đèn. Nước nhỏ xuống từ đuôi tóc. Mùi bùn, và dưới mùi bùn có một mùi khác, thơm nhẹ, tôi phải vài giây mới nhớ ra. Mùi bồ kết. Má tôi gội đầu bằng bồ kết.
Tôi quay lại định đưa cho ông Bảy coi. Ông đã đứng đó, sau lưng tôi, từ lúc nào. Ông không chìa tay ra. Ông lùi lại nửa bước, hai tay chắp ra sau lưng.
"Quăng xuống sông."
Tôi hỏi tóc ai vậy ông. Ông không trả lời. Ông nói lại, giọng thấp hơn:
"Quăng xuống sông. Tay nào bốc lên, tay đó quăng. Rồi lựa tiếp."
Tôi quăng. Lọn tóc rớt xuống mặt nước đen, không nổi, chìm luôn như có gì kéo. Anh Đực rọi đèn chỗ khác. Không ai nói gì nữa. Tôi lựa tiếp, tay hơi run, tự nói với mình tóc người ta rớt xuống sông thì lưới cào quơ trúng, có gì đâu.
Nhưng tóc rớt xuống sông thì phải rối. Không ai cột tóc rồi mới quăng.
* * *
Đêm đó cào bốn dạo. Dạo nào cũng nặng. Dạo thứ ba đãy kéo lên muốn đứt dây, anh Đực phải phụ tay quay tời. Tôm bạc nhiều tới mức ướp hết hai cây đá, anh Đực phải lấy thêm bao bố nhúng nước đậy. Anh hút liền ba điếu thuốc, không cười.
Ba dạo sau tôi không thấy tóc nữa. Tôi lựa thật kỹ, từng nắm.
Gần sáng ghe chạy về vàm. Trời phía cửa Bồ Đề ngả màu tro, cò bay từng đàn thấp sát ngọn đước. Tôi mệt quá, chui vô mui nằm võng. Qua khe tôn tôi thấy ông Bảy đi lên mũi ghe. Ông đốt một nén nhang, cắm vô cái lon sữa bò đựng cát trên mũi, chỗ hai con mắt ghe sơn đỏ. Ông đứng chắp tay rất lâu.
Rồi tôi nghe ông nói. Nói nhỏ, với mặt nước, không phải với tôi.
"Một."
Chỉ một chữ. Ông đứng thêm một lúc nữa, rồi quay vô, đi ngang chỗ tôi nằm. Ông cúi xuống nhìn tôi, tưởng tôi ngủ. Tôi nhắm mắt. Ông nhìn lâu lắm.