☾ Truyện Ma Có Thật
← Mâm cỗ thiếu một người

Chương 1: Gian nhà ngang

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Tôi về dạy ở xã Hải Lâm, huyện Hải Hậu, đầu tháng Chín năm 2005. Trường tiểu học nằm sát đường trục xã, đi thêm non cây số nữa là tới chân đê biển. Hôm nhận quyết định, cô hiệu trưởng bảo trường không có nhà công vụ, cô đã nhờ sẵn một chỗ ở nhờ trong làng Trà Trung. Cách trường mười phút đi bộ, nhà sạch, chủ tử tế, chỉ có một điều là hơi vắng.

Tôi hai mươi ba tuổi, mới ra trường, không biết vắng là thế nào. Tôi gật.

Người ra đón tôi ở ngã ba là bác Cần, đàn ông ngoài sáu mươi, gầy, da sạm màu người làm muối. Bác đèo tôi bằng xe đạp qua một đoạn ruộng muối trắng loá rồi rẽ vào một ngõ gạch. Hai bên ngõ là tường đất trồng dứa dại, phía xa có tháp chuông nhà thờ của làng bên nhô lên trên hàng phi lao.

Ngõ dẫn vào một cái cổng gạch cũ, mái cổng mọc đầy cỏ. Trong cổng là một cái sân rộng lát gạch Bát Tràng đã mòn lõm, rêu bám xanh ở góc. Một cây nhãn già che gần nửa sân. Bên tay phải là nhà bác Cần, ba gian ngói, hiên có bể nước mưa. Bên tay trái, đối diện qua sân, là một ngôi nhà năm gian thấp, mái ngói đen xỉn, cột hiên nứt dọc.

Cửa ngôi nhà ấy là cửa bức bàn, đóng kín cả năm gian. Ngang hai cánh giữa có một sợi xích sắt luồn qua hai cái khuyên, khoá bằng một ổ khoá Việt Tiệp đã gỉ thành màu nâu đỏ. Xích gỉ, khuyên gỉ, nhưng ổ khoá thì ai đó vẫn lau, chỗ lỗ khoá còn ánh thép.

Bác Cần thấy tôi nhìn, nói trước khi tôi kịp hỏi.

"Nhà thờ họ Trần Đình. Không phải của nhà tôi đâu. Tôi ở nhờ đất, trông hộ thôi."

Gian tôi ở là gian nhà ngang nối giữa hai nhà, ở góc sân phía trong, cửa nhìn ra gốc nhãn. Gian nhà có một cái giường gỗ, một cái bàn, một cái tủ đứng, một bếp dầu kê ở góc, tường quét vôi mới còn mùi. Cửa sổ duy nhất mở sang bên trái, nhìn thẳng sang hiên nhà thờ, cách chừng bảy tám bước chân.

Bác Nhàn, vợ bác Cần, ra quét lại nền, đưa tôi cái phích nước và một cây đèn dầu.

"Ở đây hay mất điện. Cô cứ để đèn ở đầu giường."

Rồi bác nhìn cái cửa sổ, định nói gì, lại thôi.

* * *

Tôi lớn lên với bà ngoại. Bố mẹ tôi buôn bán ngoài thành phố Nam Định, đi suốt, tôi ở với bà trong căn nhà tập thể cũ của nhà máy dệt, từ lúc biết đi đến lúc vào cao đẳng sư phạm. Bà tôi mất tháng Ba năm ấy, trước khi tôi ra trường bốn tháng.

Bà không bao giờ kể quê bà ở đâu. Hỏi thì bà bảo mạn biển, hỏi nữa thì bà cầm cái chổi lên quét nhà. Bà để lại cho tôi một cái hộp gỗ nhỏ, trong có cái lược sừng gãy răng và một cây trâm bạc đã cong, cũ đến mức đen lại. Tôi mang cái hộp theo về Hải Lâm, để trong ngăn tủ dưới cùng, không nghĩ gì.

Hôm tôi nhận quyết định về Hải Hậu, mẹ tôi chỉ nói một câu.

"Về mạn biển của bà đấy."

Rồi mẹ quay sang đếm tiền hàng.

* * *

Chiều đầu tiên tôi nấu cơm bằng bếp dầu, kho một nồi cá nục bác Nhàn cho. Dọn mâm ra bàn, tôi cầm hai cái bát, hai đôi đũa. Đặt xuống rồi mới nhớ ở đây tôi ăn một mình. Mười mấy năm hai bà cháu ăn cơm với nhau, tay tôi vẫn chưa quen.

Tôi cất một bát đi. Rồi theo thói quen, tôi cầm đôi đũa dựng đứng, gõ ba cái xuống mâm cho bằng đầu. Bà tôi so đũa như thế, bữa nào cũng ba tiếng, cạch cạch cạch, tôi bắt chước từ bé.

Tiếng thứ ba của tôi vừa dứt thì bên nhà thờ có một tiếng đáp lại.

Cạch.

Tiếng một cái bát sứ đặt xuống mặt gỗ. Chỉ một tiếng, khô, gọn, nghe rõ vì sân vắng và cửa sổ đang mở. Nó vọng từ trong năm gian đóng kín ấy ra.

Tôi ngồi im. Tôi nghĩ chuột. Nhà hoang thì nhiều chuột, chuột làm đổ cái gì đó. Tôi tự bảo thế và bắt đầu ăn.

Ngoài sân, nắng đã tắt. Có tiếng chuông nhà thờ làng bên gõ chiều, năm sáu tiếng, kéo dài, rồi im. Mùi khói bếp rơm ở đâu đưa tới. Tôi ăn hết bát cơm, với tay đặt bát xuống mâm.

Cạch.

Lần này tôi không nghĩ đến chuột nữa. Tiếng ấy đến đúng lúc bát tôi chạm mâm, chậm hơn một nhịp thở, như có người ở bên kia sân cũng vừa ăn xong và cũng vừa đặt bát xuống. Cùng một kiểu đặt. Nhẹ, không vội, cái kiểu của người ăn cơm một mình quen rồi.

Tôi ngồi nhìn ra cửa sổ. Hiên nhà thờ tối om. Sợi xích sắt trên cánh cửa ánh lên một vệt xám. Không có gì động.

* * *

Bác Nhàn sang lúc tôi đang rửa bát ở bể nước, tay cầm một đĩa tép rang.

"Cho cô ăn sáng mai."

Bác đứng ở cửa, nhìn vào trong gian nhà, nhìn cái bàn tôi kê sát cửa sổ, cái mâm còn để trên đó. Bác nhìn lâu hơn mức cần thiết.

"Cô kê bàn ăn ở đây à?"

Tôi bảo vâng, chỗ ấy sáng.

"Tối cô ăn cơm thì khép cái cửa sổ này lại nhé. Đừng để mâm cơm quay sang bên ấy."

Tôi hỏi vì sao. Bác Nhàn cười, bàn tay vuốt vuốt vạt áo.

"Cho đỡ gió."

Bác về rồi tôi mới để ý. Suốt từ chiều đến giờ không có một ngọn gió nào. Lá nhãn ngoài sân không một cái rung. Tôi vẫn ra khép cửa sổ.

Khép xong, đứng trong gian nhà tối, tôi mới nhận ra một điều lúc ăn đã bỏ qua. Tiếng bát bên ấy vọng sang hai lần, cả hai lần đều đúng vào lúc tôi đặt bát của mình. Nhưng tiếng so đũa thì tôi chỉ gõ một lần. Và lần ấy bên kia không đáp bằng tiếng bát.

Bên kia đáp bằng ba tiếng gõ, rất nhỏ, mà lúc đó tôi tưởng là tiếng vọng của chính mình.