Chương 9: Cuốn gia phả
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Ba ngày Tết tôi ở gian giữa nhà bác Cần, nằm chiếu, đắp chăn bông của bác Nhàn. Không ai nhắc đến đêm ba mươi. Bác Cần ăn cơm, uống chè, nghe đài. Bác Nhàn làm cỗ cúng sáng mồng Một, mồng Hai, hoá vàng mồng Ba. Cụ Tư ngồi ở hiên lần hạt. Mọi người sống như không có gì, và tôi học cách ấy rất nhanh.
Chỉ có một việc khác. Cằm tôi còn vết tím vì ngã. Và mỗi sáng, cái mâm tất niên tôi làm đổ đêm ấy vẫn nằm nguyên ở bậc hiên nhà thờ, gà lăn một góc, xôi vỡ, không ai dọn. Bác Nhàn bảo để đấy. Hết Tết hãy dọn.
* * *
Chiều mồng Ba, hoá vàng xong, bác Cần gọi tôi vào buồng cụ Tư.
Buồng tối, có mùi dầu gió và mùi người già. Cụ Tư ngồi trên giường, lưng tựa tường. Dưới gầm giường có một cái rương gỗ sơn then đã tróc. Bác Cần kéo rương ra, mở, lấy từ dưới đáy lên một gói vải điều, đặt vào lòng mẹ.
Cụ Tư sờ gói vải, rồi đưa về phía tôi.
"Cô đọc được. Tôi không."
Trong vải điều là một cuốn sổ giấy dó đóng chỉ, bìa cậy nâu, mép đã mủn. Gia phả họ Trần Đình. Những trang đầu viết chữ Nho, nét mực nâu nhạt, tôi không đọc nổi. Càng về sau giấy càng mới hơn, có mấy trang giấy kẻ ô ly đóng thêm vào, viết bằng bút mực tím, chữ quốc ngữ, nét cứng và thẳng.
Chữ ông Tụy.
Tôi lần qua những cái tên đã nghe bác Nhàn kể. Cụ Khải. Bà Cả, trong sổ ghi là Trần Thị Tần, mất Kỷ Mùi. Ông Tích, hy sinh tại Quảng Trị, chưa tìm được mộ. Ông Tụy. Dòng cuối là con gái út Trần Thị Mơ, sinh Giáp Tuất.
Dưới tên cô Mơ có một dòng viết sau, mực khác, nhạt hơn.
Bỏ làng tháng Tám năm Giáp Ngọ. Không rõ tung tích.
Trang sau đó bị xé. Còn lại một mép giấy răng cưa sát gáy sổ, rộng chừng một đốt ngón tay. Trên mép ấy còn sót vài nét chữ đầu dòng, đứt, không đọc được chữ nào trọn.
Tôi ngẩng lên. Cụ Tư đang quay mặt về phía tôi, như biết tôi vừa chạm vào chỗ xé.
"Tờ ấy tôi giữ. Chưa đưa."
* * *
Rồi cụ Tư kể chuyện cây trâm.
Cụ Khải có một lần ra Hà Nội, mua về cho bà Cả cây trâm bạc. Trâm đơn giản, chỉ một thanh bạc dẹt, đầu uốn cong như móc câu, cài búi tóc. Bà Cả đi đâu cũng cài. Cài cả lúc nấu cơm, lúc ra ruộng muối, lúc ngủ.
"Đêm cái Mơ bỏ đi, nó lấy cây trâm trên đầu mẹ nó. Mẹ nó đang ngủ. Nó rút trâm ra, tóc bà Cả xoã xuống gối, mà bà không tỉnh. Sáng ra bà sờ đầu không thấy trâm, biết ngay là nó đi."
Tôi hỏi sao cụ biết.
"Tôi là người làm trong nhà ấy từ năm mười ba tuổi. Tôi giặt khăn cho bà Cả. Tôi ngủ cùng buồng với cái Mơ."
Cụ Tư lần hạt. Một viên. Hai viên.
"Hai mươi nhăm năm sau bà Cả vẫn sờ lên đầu tìm trâm. Sờ xong mới bày thêm cái bát. Bà bảo trâm theo con đi đâu thì con theo trâm về đấy."
Tôi nghĩ đến bàn tay gầy lần lên búi tóc trống trong ánh đèn dầu. Nghĩ đến vệt sẫm hình cây trâm trên lớp vải lót trong hộp gỗ của bà tôi. Tôi không kể cho cụ Tư. Nhưng cụ Tư nói tiếp như tôi đã kể.
"Trâm về rồi. Đêm ba mươi bà Cả cài trâm. Tôi không nhìn thấy, mà tôi biết. Tiếng bước chân bà ở trong ấy khác đi."
* * *
Tôi ngồi với cụ Tư đến tối. Bác Cần đứng ở cửa buồng, không vào, không đi. Lúc tôi gấp gia phả lại, bọc vải điều, định trả vào rương, cụ Tư giữ tay tôi.
"Cô ở gian nhà ngang có thấy gì lạ không? Cái gian ấy."
Tôi bảo không. Tường vôi mới, nền gạch, cửa sổ.
"Gạch nền gian ấy không phải gạch Bát Tràng như sân. Gạch lò xã. Tường xây vữa xi măng, không xây vôi như hai nhà kia. Cô để ý mà xem. Gian ấy xây sau. Ông Tụy xây."
Tôi hỏi xây năm nào.
"Năm bảy tám. Sau Tết."
Tôi ngồi im. Trong đầu tôi, hai con số đặt cạnh nhau. Tết bảy bảy, bà tôi bỏ nhà đi ba ngày, về mắt sưng. Năm bảy tám, ông Tụy xây gian nhà ngang.
"Ông Tụy xây cho ai, thưa cụ?"
Cụ Tư buông tay tôi. Cụ tựa đầu vào tường, mắt loà nhắm lại. Tôi tưởng cụ ngủ. Giọng cụ vẫn ra, mệt, nhỏ, nhưng rõ từng chữ.
"Để mai tôi kể. Hôm nay nói nhiều rồi. Bà Cả không thích tôi nói nhiều."
* * *
Đêm ấy tôi về ngủ ở gian nhà ngang. Tôi không biết vì sao. Có lẽ vì tôi muốn nằm xuống cái nền gạch lò xã ấy mà nghĩ.
Tôi nằm, tay sờ xuống nền. Gạch ráp, vuông nhỏ, không phải gạch Bát Tràng. Tôi sờ tường. Vữa cứng, lạnh, không có cái mềm của vôi. Cụ Tư nói đúng. Gian nhà này tôi ở năm tháng, tôi chưa bao giờ sờ nó.
Bên nhà thờ không có tiếng gì. Lần đầu tiên từ hôm tôi về, trời tối hẳn mà không có tiếng bát đặt xuống. Tôi chờ, đến lúc sương đọng thành giọt trên mái, rơi lộp độp xuống hiên. Im.
Gần sáng tôi nghe tiếng bác Nhàn gọi bác Cần, giọng thất thanh, rồi tiếng chân chạy trên sân.
Cụ Tư không dậy nữa. Cụ còn thở, mắt mở, nhưng không nói được, không cử động được nửa người. Bác sĩ xã bảo tai biến. Người làng bảo cụ nói nhiều.
Tay trái cụ, bên còn cử động, nắm chặt một tờ giấy gấp tư. Bác Nhàn gỡ mãi không ra. Bác Cần bảo để nguyên.