☾ Truyện Ma Có Thật
← Phiên canh đêm thứ hai

Chương 10: Cái cửa đang mở

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Mẹ quét gạo, không nói gì, mặt trắng. Tối ấy mẹ khoá cửa như cũ, chèn cửa sổ như cũ, ôm tôi như cũ. Tôi không ngủ. Tôi nằm nghe, tay nắm chỉ đỏ, chờ tiếng cối, chờ mùi trầu. Không có gì. Tôi nhớ mình nghĩ, đêm nay yên.

Tôi tỉnh dậy vì tiếng mẹ hét.

Trời sáng bạch. Tôi mở mắt, thấy cổng tre trước mặt, thấy hàng cau, thấy cây cau chết khô. Tôi đang ngồi trên chõng ngoài hiên, ngồi thẳng, hai tay đặt trên gối, đầu nghiêng, mặt hướng ra cổng. Đúng chỗ bà ngồi, đúng dáng bà ngồi.

Trong lòng bàn tay phải tôi là cái cối nứt, đầy bã trầu mới, ướt, đỏ. Miệng tôi đầy vị trầu. Cằm tôi ướt. Một vệt đỏ chảy từ cổ xuống áo, đến đúng chỗ lạnh.

Mẹ đứng ở cửa gian giữa, tay cầm cái khoá đồng còn nguyên. Cửa buồng vẫn đóng, cửa sổ vẫn chèn cối đá. Mẹ tỉnh dậy trong buồng khoá, không có tôi bên cạnh, và tìm thấy tôi ở đây.

Mẹ không hỏi tôi ra bằng đường nào. Mẹ bế xốc tôi lên như bế đứa bé, dù tôi mười hai tuổi và mẹ gầy, chạy chân đất một mạch xuống cuối làng, đến nhà cụ Thạo.

* * *

Cụ Thạo bảo mẹ ra ngồi ngoài hiên, đóng cửa, ngồi xuống trước mặt tôi.

"Giờ mày kể thật. Đêm thứ hai."

Tôi kể hết. Chú Toản ngủ ngoài rạp. Tiếng cối trầu từ buồng bà. Tôi ngủ gật. Con mèo ngồi trên ngực, cái chân trắng dưới cổ tôi. Ngọn đèn tắt, tôi châm lại và không nói với ai.

Tôi khóc lúc kể, lần đầu tiên từ hôm bà mất tôi khóc được. Cụ ngồi nghe, không an ủi, không mắng.

Kể xong, cụ ngồi im một lúc. Rồi cụ nói.

"Nó không nhảy qua bà mày."

Tôi ngẩng lên.

"Bà mày thì quan tài đóng chốt, dao chặn, vôi rắc. Cả làng xúm vào đóng cái cửa ấy. Nó không vào được. Mà nó thì cần cửa. Đêm ấy trong nhà còn một cái mở toang. Ngay cạnh xác. Không ai canh."

Cụ nhìn tôi.

"Mày đấy. Nó nhảy qua mày."

Tôi không hiểu ngay. Rồi tôi hiểu, và cái lạnh trong ngực tôi co lại như nghe gọi tên.

Cụ nói tiếp, chậm, để tôi theo kịp. Con mèo chỉ là cái đi trước. Cái thứ không ai thấy đi sau nó, dùng mèo để tìm cửa. Đêm ấy nó vào tôi. Vào không hết, vì tôi châm lại đèn, vì gà gáy, vì tôi tỉnh đúng lúc. Nó vào được nửa.

Nửa ấy ngồi ở ngực tôi, lạnh. Đêm nào tôi ngủ nó cũng dùng tôi đi lại, ngồi hiên, nhai trầu, nói bằng giọng của nó. Nó tập làm người. Nó tập làm bà, vì bà là người nó thấy đầu tiên trong nhà ấy.

Tôi hỏi, thế bà về làm gì.

Cụ nhìn ra hiên, chỗ mẹ tôi ngồi khóc.

"Bà mày không về vì nhớ nhà. Bà mày về thay cái phiên canh mày bỏ. Nhưng không canh xác bà nữa. Canh mày. Ngồi giữa mày với nó. Đêm nào nó cũng muốn vào nốt nửa kia, mà muốn vào thì phải qua chỗ bà mày ngồi."

Tôi hỏi, sao chỉ cháu thấy bà.

"Vì bà mày đứng ở cửa của mày. Người khác không có cái cửa ấy. Mẹ mày đứng cạnh thì chỉ thấy sân."

Con Vện gầm gừ với tôi chứ không phải với quan tài. Bàn tay bác Cả rụt lại. Mọi thứ xếp thành một hàng thẳng, như hàng gạo rải từ bậu cửa ra chõng.

Và tôi nghĩ về tiếng cối trầu những đêm bà ốm.

Tôi hỏi cụ. Bà ốm không nhấc được chày, cháu không giã đêm, mà đêm nào cối cũng kêu, sáng nào cũng có bã.

Cụ gật, như chờ câu ấy.

"Nó đến từ trước. Người sắp đi thì cửa hé dần, hé dần. Nó ngồi sẵn trong nhà mà chờ. Thấy mày giã thì nó giã, học."

Cụ ngừng, lấy vạt áo lau mắt.

"Bà mày nằm đấy nghe hết. Thế nên mới dặn mày thức. Không phải thức canh bà đâu. Thức mà đóng cửa của mày lại."

Tôi nhớ bà nhìn vào ngực tôi hôm hai mươi ba. Bà đã biết trước nó sẽ chọn chỗ nào.

* * *

Tôi hỏi cụ, bây giờ làm gì.

Cụ bảo cụ không làm được gì. Thầy cụ ngày xưa chỉ dạy cách đóng cửa, không dạy cách lấy ra cái đã vào nửa chừng. Bà tôi giữ được, nhưng người chết chỉ đứng được ở cửa người sống đến hết tang. Ba năm. Đến ngày sang cát, xương sạch, bà phải đi.

"Sau đó mày tự thức. Hoặc mày để nó vào nốt."

Tôi hỏi, nó vào nốt thì sao.

Cụ nhìn xuống lòng bàn tay, chỗ hôm qua bị hút lạnh.

"Thì người ta không phải lấy đòn gánh đập cho nằm xuống nữa. Vì mày không nằm. Mày đi lại, ăn cơm, đi học. Chỉ không phải mày."

* * *

Đêm ấy tôi không vào buồng. Mẹ khóc, kéo tay, tôi gỡ ra. Tôi nói với mẹ, khoá thì sáng ra con vẫn ở hiên, con ra ngồi với bà.

Gió bấc lặng hẳn, tàu cau thôi xào xạc. Mùi trầu tới, và bà đã ngồi đó. Tôi ra hiên, ngồi xuống chõng bên cạnh bà, cùng hướng ra cổng. Tre lạnh dưới đùi, mùi trầu nồng bên vai.

Bà không phẩy tay, không bảo tôi vào ngủ. Bà quay sang nhìn tôi, lần này nhìn mặt chứ không nhìn ngực, nhìn rất lâu. Rồi bà gật một cái, như hôm tôi nói lạnh ở đây.

Tôi hỏi bà, khẽ.

"Bà ơi, đêm bà ốm, ai giã trầu cho bà?"

Bà không trả lời. Bà nhìn ra cổng tre.

Ngoài cổng, không có cối, không có chày, không có ai, tiếng giã nổi lên.

Cạch. Cạch. Cạch.

Không hụt nhịp nào nữa. Đúng tay tôi, đúng cả cái nghỉ hơi tôi vẫn nghỉ giữa hai tiếng, như nó đã học xong.