☾ Truyện Ma Có Thật
← Nắm tóc cột chỉ đỏ

Chương 4: Sợi chỉ không cháy

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Tôi nói không. Nhà tôi chỉ có Mế với tôi. Ba tôi mất từ hồi tôi chín tuổi, đi biển ở Duyên Hải rồi không về. Mế ở vậy nuôi tôi, bán cốm, đi cấy mướn, đi nhặt lúa rơi. Mế tôi tụng kinh mỗi tối, ngày rằm lên chùa dâng cơm. Mế tôi không biết ngải là gì.

Ông Kru nghe xong không nói gì. Ông chỉ thở ra một hơi dài, như người không muốn cãi.

Ông lấy trong cái hộp thiếc ra một cuộn chỉ trắng xe bằng tay, cắt một đoạn, vừa đọc kinh vừa cột vô cổ tay trái của tôi, thắt bảy nút. Rồi ông cắt thêm một đoạn nữa, cuộn tròn, gói trong lá chuối khô, đưa tôi.

"Cái này đem về cột cho Mế mày. Tay trái. Cột trước giờ Tý."

Ông vẽ một lá bùa lên miếng vải trắng bằng mực đen, chữ Khmer cổ lồng trong một hình vuông chia ô. Ông dặn tôi đêm mai, đúng giờ Tý, đem nắm tóc với lá bùa ra ngã ba đầu sóc, chỗ ba con đường gặp nhau, đốt chung. Đốt cho cháy hết, tro thì hốt bỏ xuống mương nước chảy. Đốt xong đi về không ngoái lại.

"Người lớn nhất nhà phải đứng đó coi đốt," ông nói thêm. "Mày nói Mế mày đi với mày."

* * *

Mế không chịu cột chỉ.

Tôi đưa gói lá chuối, bà cầm lên coi, rồi để xuống mặt bàn. Bà nói bà già rồi, cột chi cho vướng tay têm trầu. Tôi năn nỉ, nói ông Kru dặn. Bà nói ông Kru dặn mày, mày cột là đủ. Tôi nói ông dặn Mế đi đốt chung. Bà nói ban đêm bà đau chân, không đi xa được.

Ngã ba đầu sóc cách nhà tôi chưa tới năm trăm thước. Mế đi bộ ra chợ mỗi sáng còn xa hơn.

Tôi không hiểu. Tôi giận nữa. Nhưng tôi không cãi Mế bao giờ, từ nhỏ tới lớn, nên tôi im.

* * *

Đêm sau, gần mười một giờ, tôi đi một mình ra ngã ba.

Đêm cuối tháng Tư nóng hầm. Trên trời không trăng, sao dày. Hai bên đường ruộng đã gặt, gốc rạ khô, mùi rơm cháy từ đâu đó bay lại. Ếch nhái kêu dưới mương. Ở ngã ba có một cây thốt nốt cao, tàu lá xào xạc dù không có gió. Tôi ngồi xổm dưới gốc, xếp lá bùa lên nắm tóc, bật quẹt ga.

Lá bùa cháy nhanh, ngọn lửa xanh lét. Nắm tóc thì không. Lửa liếm vô tóc, tóc quăn lại, xèo xèo, mà cháy chậm như đốt một cục mỡ. Mùi bốc lên không phải mùi tóc khét. Mùi giống thịt nướng để quên trên lò, khét mà ngấy, đặc quánh, xộc vô mũi tôi rồi bám luôn trong cổ họng.

Tôi ngồi đó gần nửa tiếng, bật quẹt liên tục, tới khi nắm tóc chỉ còn là một nhúm tro đen. Trong nhúm tro, sợi chỉ đỏ vẫn nằm nguyên. Quấn tròn, đỏ tươi, không sém một chút nào, như vừa lấy ở cuộn ra.

Tôi lấy hai cây que gắp sợi chỉ lên, hốt tro bằng miếng giấy báo, đem đổ hết xuống mương. Nước đen ngòm nuốt mất. Tôi đứng dậy đi về, không ngoái lại.

Cả đoạn đường về, sau lưng tôi có tiếng dép nhựa. Lẹp xẹp. Cách chừng mười bước. Tôi đi nhanh nó nhanh, tôi đi chậm nó chậm. Tới cửa nhà thì nó mất.

* * *

Hai ngày sau đó tay tôi đỡ run.

Tôi hớt cho ba người khách liền, đường kéo thẳng, cạo gáy không vấp. Sáng thứ ba tôi lên cân, thấy lên lại được nửa ký. Tôi mừng, ra chùa đội ơn ông Kru một bao gạo. Ông nhận, mà mặt không vui. Ông hỏi Mế tôi có cột chỉ chưa. Tôi nói chưa. Ông không hỏi gì nữa.

Chiều đó tôi xuống bếp, thấy Mế ngồi têm trầu. Bà cầm con dao nhỏ cắt miếng cau làm tư, như mọi khi. Lưỡi dao run. Run giống hệt mũi kéo trong tay tôi mấy tuần trước, rung khe khẽ, lách cách chạm vô cái thớt gỗ. Mế thấy tôi đứng đó, bà để con dao xuống, giấu bàn tay vô vạt áo.

"Mế bệnh hả Mế?"

"Già rồi. Tay chân vậy đó."

Tối đó Mế ăn có nửa chén cơm. Tôi để ý bà mặc áo bà ba tay dài, cài kín nút cổ, dù trời nóng tới mức tôi phải trải chiếu nằm dưới nền gạch.

* * *

Nửa đêm tôi thức giấc. Không có tiếng kéo. Chỉ có tiếng tắc kè kêu trên mái tôn.

Tấm màn vải hoa hở một khe nhỏ. Qua khe hở tôi thấy được một góc tấm gương ngoài tiệm, sáng mờ vì đèn đường.

Trong gương có người ngồi ở ghế giữa.

Một người ốm, mặc áo sơ mi trắng, ngồi quay lưng vô gương. Tôi thấy rõ cái gáy cạo sát, xanh xanh, của ông. Ông ngồi im, đầu hơi nghiêng, nhìn về phía tấm màn. Không phải nhìn tôi. Nhìn xéo qua, về phía buồng Mế.

Tôi nhìn sang cái ghế thật, chỗ có thể thấy được qua khe màn. Cái ghế trống không.

Sáng ra, trên mặt bàn kê dưới gương, chỗ tôi để lược, có một sợi chỉ đỏ quấn tròn.