Chương 1: Ly cà phê buổi sáng
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Nhà mạ tôi là một căn nhà gỗ hai gian trên dốc Nhà Làng, mái tôn sơn xanh đã bạc, vách ván thông ken khít, sàn kê cao hơn mặt đất một gang tay để hơi đất không ngấm lên. Mạ mất hồi tháng Hai năm 2015, giữa mùa mai anh đào. Tôi với anh Lâm ở Bảo Lộc dọn về giữ nhà, giữ bàn thờ.
Tôi làm thợ sửa quần áo, thuê một sạp nhỏ ở dãy hàng vải trong chợ. Tay thợ may thì ngón giữa bàn tay trái lúc nào cũng có vết kim, cũ chưa lành, mới đã chồng lên. Mạ nói nghề này ăn máu tay từng chút, không ai thấy.
Anh Lâm làm thợ đóng khung tranh cho một xưởng trên đường Phan Đình Phùng. Khung tranh hoa, tranh đồi thông cho khách du lịch mua về làm quà. Anh hiền. Hiền tới mức mấy chị bán vải trong chợ hay chọc tôi, nói con Uyên nuôi được ông chồng mà không cần dây xích.
Chuyện tụi tôi quen nhau thì tôi không hay kể. Ai hỏi, tôi nói quen ở Bảo Lộc, rồi lái qua chuyện khác.
* * *
Sáng nào tôi cũng dậy trước anh, bắc ấm nước trên bếp ga mini, pha một phin cà phê. Cà phê sữa, nhiều sữa, ít đường. Tôi để phin nhỏ giọt trên cái ly thủy tinh có quai, đặt lên bàn cạnh cửa sổ. Ba năm nay chưa buổi sáng nào tôi bỏ. Anh không uống cà phê ngoài quán. Anh nói cà phê ngoài không hợp miệng. Anh chỉ uống ly tôi pha.
Trên bậu cửa sổ chỗ cái bàn, tôi để một chậu gừng. Chậu sành, đất đen, mấy bẹ lá dài như lá gừng mà xanh đậm hơn, gân lá màu tím. Tôi đem nó từ Bảo Lộc lên, bọc trong cái thau nhựa, ôm suốt đoạn đèo. Dưới đó nó tốt lắm. Lên đây tới tháng Mười, sương đêm xuống buốt, lá bắt đầu vàng từ chóp. Tối nào tôi cũng lấy bịch ni lông trùm lên, sáng mới gỡ ra.
Anh Lâm có lần hỏi, gừng gì mà cưng dữ vậy. Tôi nói gừng mạ cho. Anh gật, không hỏi nữa. Anh ít hỏi. Ở với nhau ba năm, tôi học được một điều: chuyện gì mình không nhắc thì coi như không có.
Đám cưới tụi tôi tính làm sau rằm tháng Chạp. Chỉ mấy mâm trong nhà. Giấy tờ thì tính sau. Giấy tờ của anh còn để ở đâu đó, anh nói từ từ đi lấy. Tôi không giục. Tôi không cần tờ giấy.
* * *
Anh Lâm có một cái tật. Lúc làm việc tay chân, chà giấy nhám, lau kính, anh hay ngâm nga một bài. Không có lời, chỉ có điệu. Điệu buồn, chậm, lên xuống như người ru con mà không ra ru con. Tôi hỏi bài gì. Anh nói không biết, nghe ở đâu hồi nhỏ, tự nhiên nó nằm trong đầu.
Tôi không thích bài đó. Tôi không nói ra. Mỗi lần anh ngâm, tôi mở cái đài nhỏ trên tủ, vặn lớn đài phát thanh tỉnh. Anh nghe đài thì quên ngâm.
* * *
Chuyện bắt đầu vào một buổi chiều cuối tháng Mười.
Hôm đó sương xuống sớm. Anh Lâm thường về nhà khi đèn đường bật. Hôm ấy đèn đường bật lâu rồi, cơm tôi dọn ra rồi đậy lồng bàn, anh vẫn chưa về. Tôi gọi điện. Cái máy Nokia của anh đổ chuông tới tắt.
Tôi khoác áo len, xuống dốc đi tìm.
Chợ đêm Đà Lạt nằm ở khúc đường dưới chân chợ lớn, người ta bày hàng dọc hai bên, dưới mấy dãy bậc thang xuống từ phía khu Hòa Bình. Áo len, bắp nướng, sữa đậu nành trong mấy thùng nhôm bốc khói. Người ta gọi là chợ âm phủ, vì hồi xưa chợ họp trong bóng tối, mỗi sạp một ngọn đèn dầu.
Tôi thấy anh Lâm đứng trên bậc thang thứ ba từ dưới lên.
Anh đứng thẳng, hai tay buông, áo khoác chưa kéo dây. Anh không nhúc nhích. Mặt anh nhìn xuống một sạp hoa nằm sát chân cầu thang.
Đó là một sạp nhỏ. Mấy cái xô nhựa đựng nước, cắm toàn cúc. Cúc vàng, cúc trắng, và nhiều nhất là cúc họa mi, bông nhỏ, cánh trắng, nhụy vàng, mùa này đang rộ. Một bóng đèn sạc treo trên cây sào tre. Ngồi sau mấy xô hoa là một người đàn bà gầy, cỡ ngoài ba mươi, quấn khăn len màu cháo lòng, đang lấy lạt tre bó từng bó cúc.
Tôi nhìn chị ta một lần rồi quay đi. Tôi không thích nhìn mặt người bán hàng.
Tôi lên bậc thang, đứng sát bên anh. Tôi kêu anh. Anh không quay lại. Tôi nắm tay áo anh giật nhẹ. Anh quay qua, nhìn tôi, mắt trống trơn một lúc, như người ta mới thức dậy chưa biết mình ở đâu.
"Uyên hả," anh nói. "Em đi đâu đây?"
"Em đi kiếm anh. Anh đứng đây chi?"
Anh nhìn xuống sạp hoa, rồi nhìn lại tôi. Anh chớp mắt mấy cái.
"Anh đâu có đứng. Anh đi ngang."
* * *
Về tới nhà anh ăn cơm ngon lành, kể chuyện cái khung tranh khách đặt bị nứt kính. Như không có gì.
Lúc anh đi tắm, tôi giặt cái áo khoác anh vừa cởi ra. Thói quen. Tôi thò tay vào túi áo xem có quên tiền, quên giấy tờ gì không.
Trong túi áo có một bông cúc họa mi. Một bông, cánh trắng còn tươi, cuống bị bẻ gọn bằng móng tay.
Anh Lâm không mua hoa. Ba năm nay anh chưa mua cho tôi bông nào.
Tôi gõ cửa nhà tắm, hỏi anh bông hoa ở đâu ra. Tiếng nước dội ngưng một chút.
"Hoa gì em?"
Tôi nói bông cúc trong túi áo anh. Bên trong im lâu. Rồi tiếng nước lại dội, và giữa tiếng nước, tôi nghe anh bắt đầu ngâm nga cái điệu đó, rất nhỏ.
Tôi đem bông hoa ra, định vứt vô sọt rác. Đi ngang cửa sổ, tôi thấy chậu gừng. Tôi quên trùm ni lông. Sương đã đọng trên lá thành từng hạt. Thêm một bẹ lá nữa đã vàng, vàng từ chóp xuống tới giữa, và nó đang gập lại, chĩa xuống đất như cái cổ người cúi đầu.