☾ Truyện Ma Có Thật
← Người bán hoa chợ đêm

Chương 4: Đêm sương chân cầu thang

Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem

Tôi chạy xuống dốc Nhà Làng bằng đôi dép lê, áo len khoác vội trên bộ đồ ngủ. Sương bám vào mặt, vào tóc, lạnh như ai lấy khăn ướt chườm lên. Đèn đường chỉ còn là những đốm vàng mờ trôi lơ lửng, không thấy cột. Tôi đi bằng trí nhớ, đếm khúc quẹo, đếm bậc xi măng.

Cả con dốc không một tiếng động. Mấy con chó nhà bên thường sủa khi có người đi ngang, đêm đó im re. Tôi chỉ nghe tiếng dép mình, tiếng thở mình, và thỉnh thoảng phía dưới, xa xa, cái điệu ngâm đó vọng lên một đoạn rồi đứt.

Chợ đêm lúc khuya là một chỗ khác hẳn. Mấy dãy sạp dọn hết, chỉ còn khung sắt trơ trọi, mấy tấm bạt cột lại, rác vỏ bắp, ly nhựa dồn vào chân tường. Mùi than nguội. Mùi nước rau thối từ cống chợ bốc lên.

Tôi tới chân dãy bậc thang. Anh Lâm đứng ở bậc thứ ba.

* * *

Anh mặc bộ đồ ngủ sọc xanh, chân trần. Từ chỗ tôi đứng, tôi thấy gót chân anh đen bùn, có vệt máu rỉ ra chỗ mắt cá, chắc anh vấp đâu đó trên dốc. Anh không run. Người anh đứng yên trong sương như cái cột đèn.

Anh nhìn xuống chỗ sạp hoa. Chỗ đó trống trơn. Chỉ có một cái xô nhựa đỏ bị bỏ lại, úp ngược, cạnh chân tường.

Tôi định kêu anh. Rồi tôi thấy.

Sương ở chỗ sạp hoa dày hơn chỗ khác. Nó cuộn lại thành một khối trắng đục, cao chừng một người ngồi. Trong khối sương đó, tôi thấy một dáng người ngồi trên ghế đẩu, lưng thẳng, hai đầu gối khép. Hai tay đang làm gì đó trước ngực. Rút, gõ, quấn. Quấn. Quấn.

Tôi đứng chết trân. Gió từ phía hồ thổi tới, sương tan ra một khoảng. Chỗ đó chỉ có cái xô nhựa đỏ úp ngược. Không ghế. Không ai.

Mùi cúc. Cái mùi đắng hăng của nhựa cuống cúc vừa bẻ bốc lên nồng nặc, giữa đêm, ở một chỗ không có lấy một cánh hoa.

* * *

Tôi bước lên bậc thang, chạm vào tay anh. Tay anh lạnh như sắt.

"Anh Lâm. Về."

Anh quay lại. Anh nhìn tôi. Lần này không phải cái nhìn của người mới ngủ dậy. Đó là cái nhìn lịch sự, xa cách, của người ta khi gặp một người lạ hỏi đường. Anh hơi cúi đầu.

"Dạ. Chị ơi, chị có thấy nhà tôi đâu không?"

Tôi nghe tim mình rơi xuống đâu đó dưới bụng.

"Nhà anh trên dốc kia. Em dắt anh về."

Anh lắc đầu chậm rãi, rất chắc.

"Không phải. Nhà tôi không có dốc. Nhà tôi ở giữa ruộng, có mấy dãy nhà phủ ni lông trồng cúc, có cái kho chứa phân gà sau hè. Đêm nào cũng phải thắp đèn trong nhà kính cho cúc khỏi nở sớm. Con nhỏ nó sợ tối, nó không chịu ngủ nếu tôi chưa về."

Anh nói một hơi, giọng đều, rõ, như đọc thuộc lòng. Rồi anh nhìn tôi, chờ.

"Chị có thấy không?"

Tôi nói anh đang mơ ngủ. Tôi nói câu đó hai lần, lần thứ hai to hơn, như để người khác nghe. Rồi tôi nắm chặt cổ tay anh, kéo.

Anh để tôi kéo. Anh không giằng. Nhưng suốt đường lên dốc, cứ được vài bước anh lại ngoái về phía chợ. Có lúc anh dừng hẳn, nghiêng đầu như nghe ai gọi. Tôi không nghe gì. Tôi chỉ nghe tiếng mình thở, và tiếng dép mình lẹp xẹp trên xi măng ướt.

Tới cổng nhà, anh đứng lại, nhìn căn nhà gỗ hai gian của mạ tôi. Anh hỏi rất nhỏ:

"Chị ở đây hả?"

Tôi không trả lời. Tôi dắt anh vào, lấy khăn ấm lau chân cho anh, sát trùng vết trầy, đắp mền. Anh ngủ ngay, ngủ say như đứa nhỏ.

Tôi ngồi bên giường tới sáng.

* * *

Sáng ra anh dậy, gọi tôi là Uyên, hỏi sao chân anh trầy. Tôi nói đêm qua anh đi tiểu vấp bậc cửa. Anh cười, nói anh vụng. Rồi anh mặc đồ, đi làm.

Tôi không pha cà phê. Lần đầu tiên trong ba năm, tôi quên.

Lúc tôi nhớ ra, anh đã đi rồi. Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn chậu gừng. Đêm qua tôi lại quên trùm ni lông. Bẹ lá lớn nhất đã gãy ngang, gục xuống thành chậu. Đất sụt xuống một bên, lòi ra một phần củ. Củ không vàng như củ gừng. Nó màu tím sẫm, gần như đen, da nhăn như da bàn tay ngâm nước lâu.

Tôi lấy đất lấp lại. Tay tôi run tới nỗi đất rơi vãi ra bậu cửa.

* * *

Gần trưa, ông chủ xưởng khung tranh gọi vô máy tôi. Ông hỏi thằng Lâm bệnh hả, sao không đi làm, cũng không báo.

Tôi bỏ sạp, chạy xuống chợ.

Chợ đêm ban ngày là bãi giữ xe với mấy hàng ăn sáng. Ở chân dãy bậc thang, có một chiếc xe ba gác đậu sát lề, chở đầy xô nhựa cắm cúc, chắc mới từ ngoài vườn chở vô. Người đàn bà bán hoa đứng trên thùng xe, đưa xuống từng xô.

Người đứng dưới đỡ lấy từng xô, xếp vô chân tường, là anh Lâm.

Anh đỡ xô nào cũng cẩn thận, hai tay ôm sát bụng cho nước khỏi sóng ra. Không ai bảo anh. Chị ta cũng không cảm ơn. Hai người làm như đã làm chung việc đó cả ngàn lần, không cần nói với nhau một tiếng nào.