Chương 12: Góc hầm trống
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
U và tôi chạy lên. Cái thang tre rung lên dưới chân. Tôi quên cả đèn, để nó cháy một mình dưới hầm. Trong buồng, bà nằm nghiêng, quay mặt vào vách, thằng Cốm ngủ rúc trong nách bà. U gọi bà. Bà không thưa. Bà thở đều, sâu, cái thở của người ngủ say mà cả mấy tháng nay tôi chưa nghe bà thở được.
U ngồi xuống mép phản, nhìn bà rất lâu. Rồi u bảo tôi đi nằm. U không xuống hầm nữa. U nằm ngoài cùng như mọi đêm, nhưng lần này u quay mặt vào trong, về phía bà.
Tôi nằm mà không ngủ được. Gần nửa đêm, tôi nhớ ra cái đèn. Tôi rón rén ra bếp, kéo bồ trấu, nhìn xuống.
Cái đèn dầu lạc vẫn cháy dưới hầm. Ngọn lửa đứng thẳng. Không ngả về đâu cả.
Góc trong cùng trống.
Tôi xuống từng bậc. Tôi cầm cái đèn lên, soi vào góc ấy. Chỉ có đất. Đất nện, lổn nhổn mấy viên sỏi, mấy cái rễ tre nhỏ chòi ra từ vách. Nền đất chỗ thầy ngồi hơi lõm xuống, như chỗ có ai ngồi lâu lắm. Vết bàn tay trên vách vẫn còn đó, nhưng đã khô, đã nhạt, nâu như màu đất. Ngay giữa lòng bàn tay có một vết rạch thẳng, chỗ lưỡi lê cắm vào hôm trước.
Tôi đứng đó, cầm đèn, chờ. Không có cái lạnh. Không có mùi dầu máy với bông sợi. Không có gì cả.
Tôi thổi đèn, đi lên, kéo bồ trấu đậy lại. Tôi nghĩ thầy đi rồi. Bà gọi tên, thầy đi. Tôi nằm xuống cạnh thằng Cốm, và lần đầu tiên từ khi sang sông, tôi ngủ một mạch.
* * *
Sáng hôm sau tôi tỉnh vì tiếng u.
Không phải tiếng gọi. Tiếng u ở dưới hầm, một tiếng kêu ngắn, nghẹn, như tiếng người bị bóp cổ. Tôi bật dậy. Chỗ bà nằm trên phản trống. Chiếu đã lạnh.
Cái bồ trấu bị kéo sang một bên. Tấm ván mở. U tôi đứng dưới chân thang, tay buông thõng.
Bà ngồi trong góc trong cùng.
Bà ngồi bó gối, đúng như thầy tôi đã ngồi. Lưng bà tựa vào vách, đầu ngả về phía sau, tựa đúng vào vết bàn tay. Mắt bà nhắm. Cái tràng hạt quấn ở cổ tay. Miệng bà hé mở một chút, như người đang định nói gì đó với ai ngồi bên cạnh.
Cái chân trái trật khớp của bà duỗi thẳng ra trên nền đất, hai tháng nay không co lại được. Cái thang tre có bậc thứ tư mới thay, trơn tuột. Bà không đứng được, không bò được. Không ai đỡ bà xuống.
U tôi sờ tay bà. Lạnh từ lâu rồi.
Trên lớp trấu rơi vãi dưới chân thang, có hai hàng dấu. Một hàng dấu chân trần, nhỏ, bàn chân người già. Một hàng dấu có vằn chéo như chân quấn vải. Hai hàng dấu đi song song từ chân thang vào góc trong. Không có hàng nào đi ra.
* * *
Làng chôn bà ở gò Đống Cao, cạnh cái ụ đất có que tre. Ông Mão mang cái hòm gỗ sơn then sang trả u. U giở từng thứ ra. Cái ruột tượng. Cái mũ lá. Đôi dép lốp. Mẩu bút chì buộc chỉ đỏ.
U cầm mẩu bút chì lâu nhất. Sợi chỉ đỏ là chỉ khâu mũ. U gỡ nó ra khỏi đầu bút, quấn hai vòng vào ngón tay mình, buộc lại.
U nhờ ông Mão viết lên một tấm ván gỗ: Lê Văn Hưng, thợ nhà máy sợi thành Nam. U cắm nó ở đầu mộ, thay cho cái que tre. Mảnh xà cạp chàm thì u tháo ra, gấp lại, giữ trong người.
Tối hôm chôn bà có tàu bay. U đưa tôi với thằng Cốm xuống hầm. U thắp đèn. Ngọn lửa đứng thẳng. Góc trong cùng trống. U đặt tay lên đầu tôi, rồi lên đầu thằng Cốm. U đếm.
"Con Nhài. Thằng Cốm."
Rồi u dừng. U không nói đủ cả. U ngồi nhìn vào cái góc trống ấy cho tới khi tàu bay đi.
* * *
Nhà tôi ở Ngọc Trì đến năm 1950 thì Tây chiếm Thái Bình, lại chạy. Năm 1955 mới về được thành Nam. Phố Hàng Thao không còn nhà tôi nữa. U tôi không đi bước nữa, ở vậy nuôi hai chị em tôi, làm mũ đến lúc mắt mờ. Cái thằng đội mũ dạ đeo kính râm, người ta bảo bị bắt rồi bị xử, người ta bảo trốn vào Nam. Tôi không biết. Tôi cũng không biết vì sao hôm ấy nó lại bảo dưới hầm chỉ có đất.
Từ đêm bà gọi tên thầy, tôi không thấy thầy lần nào nữa. Thằng Cốm lớn lên không nhớ gì, chỉ hay kể với vợ con nó rằng hồi bé nó sợ lưỡi lê.
U tôi mất năm 1989, ở thành Nam, trong một gian buồng tối. Đêm cuối cùng, mất điện, tôi ngồi bên giường. U đã không nói được mấy ngày. Gần sáng, u mở mắt, quay đầu về phía góc buồng, nơi không có ai. U nhấc bàn tay trái lên, run run, đặt ngón trỏ lên môi. Gõ hai cái. Rồi u cười.
Tôi không quay sang nhìn cái góc ấy. Tôi sợ mình không thấy gì.
* * *
Tôi năm nay tám mươi chín tuổi. Tôi ở với con trai út ở Vũ Thư, cách Ngọc Trì chưa đầy mười cây số. Tôi ngủ một mình trong gian buồng phía sau. Giường tôi kê sát vách, nhưng bao giờ tôi cũng chừa ra một khoảng ở góc trong, không để gì cả. Con dâu tôi mấy lần định kê cái tủ vào đấy, tôi không cho.
Đêm qua lại mất điện. Tôi thắp cái đèn dầu con cháu vẫn để dành trong ngăn kéo. Ngọn lửa cháy thẳng được một lúc.
Rồi nó nghiêng. Không ngả vụt đi như ngày xưa dưới hầm. Nó nghiêng từng chút về phía góc trong, dừng, rồi nghiêng thêm, như có một người già đang hạ mình ngồi xuống, chậm, khó nhọc, cái hông không chịu co.
Tôi ngồi im. Tôi đặt ngón trỏ tay trái lên môi, gõ nhẹ hai cái. Rồi tôi chờ.
Tôi vẫn chưa quay sang nhìn.