Chương 1: Ngày đầu ra trảng
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Tôi tên Thiện, năm nay bảy mươi tuổi. Chuyện này xảy ra năm 2003, khi tôi năm mươi, và đã hai mươi tám năm không đụng tới cái xẻng công binh nào. Tôi kể lại không phải để ai tin. Tôi kể vì còn một người cần được kể.
Quê tôi ở Vĩnh Linh, bên kia sông Bến Hải. Sau giải phóng tôi lấy vợ người Gio Linh rồi ở lại bên này, làm ruộng, nuôi bò, sửa máy nổ cho cả xóm. Vợ tôi tên Lành. Chúng tôi có ba đứa con, đứa út năm ấy học lớp mười hai.
Đầu tháng Ba năm 2003, đội rà phá bom mìn của tỉnh về xã. Người ta gọi là Đội Bốn. Đội có một đội trưởng tên Quân, ngoài ba mươi, người Đông Hà, giọng nói to và tay lúc nào cũng cầm cái bộ đàm. Có một cô y tá tên Hạnh, có mấy cậu kỹ thuật viên còn trẻ, cậu Lâm nhỏ nhất, hai mươi hai tuổi, mới đi lính về. Có chú Tám lái xe u-oát. Họ cần một người biết đất, biết trảng, biết chỗ nào ngày xưa là hào, chỗ nào là bãi mìn. Xã giới thiệu tôi.
Vợ tôi không muốn. Tối hôm trước ngày ra trảng, Lành ngồi vá áo dưới bóng đèn tròn, không nhìn tôi, nói:
"Ông đã về được rồi thì đừng ra đó nữa."
Tôi nói công một ngày bằng hai ngày làm ruộng. Lành không nói gì thêm. Nhưng sáng ra tôi thấy trong túi áo bảo hộ có một gói muối nhỏ gói bằng giấy báo. Người Gio Linh tin muối giữ vía.
* * *
Trảng cát Bàu Sen nằm phía đông thôn, rộng chừng hai chục mẫu, giáp một bên là rừng dương, một bên là ruộng cạn. Cát ở đây trắng, pha vỏ sò, đi lún tới mắt cá. Giữa trảng còn một gốc dương cụt, to bằng hai vòng tay, bị pháo chặt ngang từ hồi nào, trơ lại một thân đen cao quá đầu người. Người làng không ai thả bò vào trảng. Năm 1986 có một đứa nhỏ mất bàn chân ở đó.
Tôi biết trảng này. Tháng Ba năm 1972 tôi đã bò qua nó. Tôi không kể cho ai trong đội biết chuyện đó. Người ta chỉ cần tôi chỉ hướng hào cũ, và tôi chỉ.
Đội làm việc theo băng. Mỗi băng rộng một mét, chăng dây, cắm cọc tre quét vôi. Hai người một băng, một người cầm máy dò quét từng gang, một người đứng sau ghi chép. Máy dò là loại của Đức, cán dài, đeo tai nghe, gặp kim loại thì kêu một tiếng tít dài trong tai. Chỗ nào kêu thì cắm cờ đỏ, rồi người xử lý tới moi bằng xẻng nhỏ và bay thợ nề. Mũ bảo hộ có tấm kính che mặt, nóng như úp nồi lên đầu.
Buổi sáng đầu tiên đội tìm được bảy quả bom bi quả ổi và một đầu đạn cối. Quân bảo trảng này chắc còn nhiều, cát lún nên bom lặn sâu, máy dò chỉ bắt được tới ngang đầu gối.
Khoảng mười giờ tôi đứng ở đầu băng số ba, uống ngụm chè xanh trong cái bi đông cũ, nhìn ra giữa trảng. Và tôi thấy có người đứng ở đó.
Một người đàn ông đứng cách tôi chừng sáu chục thước, gần gốc dương cụt, trong vùng chưa rà. Mặc quân phục màu cỏ úa đã bạc, loại vải Tô Châu ngày xưa, quần ống rộng, chân đi dép cao su. Đội mũ cối. Đầu cúi xuống nên tôi không thấy mặt. Một tay ông ấy duỗi thẳng, ngón trỏ chỉ xuống cát, ngay trước mũi chân. Tay kia áp chặt vào bụng.
Tôi tưởng người làng. Người làng ở đây có nhiều người mặc đồ lính cũ đi làm đồng. Tôi gọi Quân, bảo có người đi vào vùng chưa rà. Quân quay nhìn, rồi nhìn tôi.
"Ai? Chỗ nào?"
Tôi chỉ. Quân nhìn một lúc, nhướng mắt, rồi nói chú nhìn nhầm cái gốc dương rồi, nắng quá. Tôi nhìn lại. Người đàn ông vẫn đứng đó, cách gốc dương một quãng, tay vẫn chỉ xuống. Áo ông ấy không bay. Gió nồm sáng đó thổi khá mạnh, cờ đỏ ở các cọc đều phần phật, mà vạt áo ông ấy rũ xuống như đứng trong nhà.
Tôi không nói gì nữa. Tôi nghĩ mắt mình năm mươi tuổi rồi.
* * *
Đến trưa, băng số ba rà tới gần chỗ đó. Người đàn ông không còn ở đó nữa. Tôi không thấy ông ấy đi lúc nào. Tôi cũng không thấy dấu chân. Cát trảng Bàu Sen mịn, đi qua là in dấu, trâu bò đi từ hôm trước còn thấy. Chỗ ông ấy đứng chỉ có cát phẳng, gió xoa thành gợn.
Tôi bảo cậu Lâm rà kỹ chỗ đó. Lâm hỏi sao. Tôi nói linh tính. Lâm cười, quét máy qua. Máy kêu tít một tiếng dài. Lâm cắm cờ đỏ. Người xử lý moi lên một quả đạn phóng lựu, loại bốn mươi ly, còn nguyên ngòi, nằm nghiêng dưới lớp cát sâu hơn gang tay.
Quân đi tới, cầm quả đạn lên ngắm, cười lớn:
"Chú Thiện có mắt thần. Mai chú đi trước, chỉ đâu tụi cháu rà đó."
Tôi cười theo. Nhưng tay tôi lạnh, dù trời đã gần mười hai giờ trưa và cát bốc hơi lên tận mặt.
Chiều, lúc đội thu dây về, tôi đứng lại ở đầu băng nhìn ra trảng một lần nữa. Người đàn ông đứng ở một chỗ khác. Xa hơn, gần phía rừng dương. Vẫn cúi đầu. Vẫn một tay chỉ xuống, một tay áp vào bụng.
Và tai trái tôi, cái tai đã điếc từ năm 1972, bắt đầu ù lên một tiếng dài, đều, như tiếng máy dò gặp kim loại.