☾ Truyện Ma Có Thật
← Người nằm cạnh trên ghe hàng

Chương 9: Hỏi chồng một câu

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Anh Tư về tới Cái Vồn chiều ngày thứ ba, xách cái bơm cao áp bọc giấy dầu. Anh lắp máy tới tối. Tôi ngồi ở khoang giữa lặt rau, nhìn lưng anh cúi trong khoang máy, nghe tiếng cờ lê gõ vô sắt. Tôi đã tập câu hỏi suốt hai ngày. Tới lúc anh rửa tay, ngồi xuống mâm cơm, tôi hỏi.

"Chị Thắm mất năm nào anh?"

Anh đang gắp cá. Đũa anh dừng giữa chừng, rồi đặt miếng cá vô chén tôi.

"Năm chín chín. Anh nói em rồi mà."

"Mười sáu này là giỗ đầu chị Thắm."

Anh không gắp nữa. Anh đặt đôi đũa ngang miệng chén, ngay ngắn, như người ta đặt đũa lúc cúng. Ngoài sông có chiếc ghe chài chạy ngang, sóng đánh vô mạn, đèn dầu chao một cái.

Anh im lâu tới mức tôi nghe được tiếng muỗi.

* * *

Rồi anh nói. Giọng anh không giận. Giọng anh mệt, khàn, như người vừa khiêng một bao gạo rất xa mới được đặt xuống.

Anh nói anh với Thắm cưới nhau mười năm mà không có con. Mười năm sống trên ghe, hai người nói với nhau không hết mười câu một ngày. Anh nói anh hết thương Thắm từ lâu, mà anh không biết làm sao bỏ. Rồi anh gặp tôi. Anh nói anh nói dối tôi là góa vợ vì anh sợ tôi không thèm nhìn mặt.

"Còn chuyện Thắm rớt sông là thiệt. Anh thề với em. Anh đang cầm lái, nghe tiếng ùm, quay lại thì không thấy."

"Rồi sao anh nói hai năm?"

"Anh sợ em chê anh vợ mới chết mấy tháng đã đi cưới. Anh sợ người ta nói. Anh sợ ba em không gả."

Anh đưa tay lên dụi mắt. Mắt anh đỏ. Tôi chưa từng thấy anh như vậy. Tôi ngồi nhìn chồng mình, người đàn ông ba mươi sáu tuổi, chai tay, đen sạm, đang ngồi trước mâm cơm nguội mà ráng không khóc.

Tôi thấy mình mềm đi. Tôi ghét mình vì mềm đi. Nhưng tôi mềm.

Anh không nói gì về chuyện dì Thắm khóc trong mui. Không nói gì về câu của con nào. Không nói gì về điếu thuốc hút hết rồi mới tắt máy. Tôi cũng không hỏi. Tôi không muốn thằng Sơn bị gì. Tôi tự nói với mình vậy.

* * *

Dọn chén xong, anh hỏi, giọng vẫn nhẹ:

"Bữa hổm em xuống Trà Ôn hả?"

Tôi đứng sững với cái thau chén trên tay. Tôi chưa nói với ai. Ba tôi không biết. Anh Tư nhìn tôi, không cười.

"Tóc em còn mùi nhang trầm. Nhà bà Ba đốt trầm, cả chợ Trà Ôn ai cũng biết."

Tôi không chối. Anh gật đầu, như vậy là đủ.

"Bà già đó từ hồi Thắm mất là lẫn rồi. Bả nói gì em cũng đừng tin."

Anh đứng dậy, đi vô mui. Lần đầu tiên tôi thấy anh bước vô mui. Anh lật gối tôi lên, lấy cái hộp thiếc kim chỉ, mở ra. Trong hộp có mảnh nhựa đỏ, và bó nhang thứ nhất của bà Ba. Bó thứ hai tôi giấu trong túi áo bà ba đang mặc.

Anh cầm bó nhang lên. Anh không nhìn tới mảnh nhựa đỏ, hoặc anh nhìn mà không cho tôi thấy là anh nhìn. Anh đi ra sau lái, quăng bó nhang xuống sông.

"Nhang của bả xui lắm. Đừng đốt trên ghe."

Rồi anh đậy nắp hộp lại, đặt vô dưới gối, ngay ngắn như cũ.

* * *

Đêm đó ghe chạy chuyến xuống. Anh đứng ngoài cửa mui chờ tôi nằm, rồi kéo cửa lùa, gài chốt. Cạch. Tiếng chốt vang trong mui nhỏ như tiếng khóa cái rương.

Tôi nằm nghe máy nổ. Ngón tay tôi trong túi áo bóp chặt bó nhang thứ hai tới khi giấy báo nhàu nát.

Người đàn bà tới sớm hơn mọi đêm. Ghe mới qua Cần Thơ thì tấm ván sau lưng tôi đã lún. Cái lạnh, mùi dầu dừa, tiếng tóc nhỏ nước. Tôi không quay lại. Tôi nằm im, và tôi để chị nằm.

Nhưng đêm nay nước không chỉ thấm nửa chiếu bên trái. Nó lan qua. Chậm, đều, như nước lớn bò lên bãi. Tới vai tôi. Tới hông tôi. Tới gót chân tôi. Tôi nằm trong một vũng nước lạnh có mùi sông, mà tôi không nhúc nhích.

Rồi tôi nghe một tiếng khác.

Không phải trong mui. Ở ngoài. Dưới thấp. Ngay sau vách ván sát tai phải của tôi, dưới mặt nước, phía bên kia thân ghe.

Tiếng móng tay cào vô gỗ.

"Rẹt." Nghỉ. "Rẹt."

Có hai người. Một người nằm sau lưng tôi, trong mui. Một người đang bám bên ngoài thân ghe, dưới nước, cào lên lớp ván ngay chỗ tôi áp tai. Cùng một nhịp. Cùng một bàn tay.

Rồi qua lớp ván dày, giọng đó vọng vô, nghèn nghẹt như nói trong lu nước.

"Mười sáu..."