Chương 1: Ca trực đầu tiên
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Tôi tên Toàn, Nguyễn Hữu Toàn, quê Ân Thi, Hưng Yên. Học xong trung cấp điện ở thị xã, tôi làm hai năm cho một xưởng cơ khí ở quê rồi theo thằng bạn lên Hà Nội. Đầu năm 2012, tôi hai mươi sáu tuổi, thuê một phòng trọ ở Khương Trung, ăn cơm bụi, đi xin việc bằng một cái xe máy cũ mượn của cậu.
Chỗ nhận tôi là toà nhà Tân Hà ở Thanh Xuân. Toà nhà mười lăm tầng, xây từ năm 1996, hoàn công năm 1998, do một nhà thầu Đài Loan làm. Đến năm 2012 thì nó đã cũ lắm rồi, sơn vàng tróc từng mảng, dây điện dây cáp chằng chịt ngoài mặt tiền, hành lang hẹp mùi dầu mỡ và mùi hương vòng. Người ta cần một kỹ thuật viên trực đêm vì người cũ nghỉ.
Tôi gặp ông Thịnh, trưởng ban quản lý, trong một căn phòng nhỏ dưới tầng một kê một cái bàn, một cái giường gấp, một bộ ấm chén và cái quạt cây kêu lạch cạch. Ông ngoài sáu mươi, gầy, tóc cắt ngắn bạc trắng, ngồi quay lưng ra cửa.
Tôi đưa hồ sơ. Ông không mở. Ông chỉ cầm cái chứng minh thư của tôi, đưa ra xa mắt mà đọc. Môi ông mấp máy theo từng chữ.
"Nguyễn Hữu Toàn. Ân Thi."
Ông đặt cái chứng minh thư xuống bàn, ngồi im lâu lắm. Cái quạt quay qua quay lại hai vòng. Rồi ông nói, giọng như người vừa thở ra:
"Anh làm được. Mai bắt đầu."
Tôi hỏi lương, hỏi giờ giấc, hỏi có thử việc không. Ông trả lời đủ cả, rành rọt, nhưng không nhìn tôi lần nào nữa. Lúc tôi ra cửa, ông gọi với theo:
"Trực đêm thì ghi sổ cho đầy đủ. Cái gì cũng ghi."
* * *
Ca đêm của tôi từ mười giờ tối tới sáu giờ sáng. Việc không nhiều: kiểm tra máy bơm nước, tủ điện tổng, máy phát dự phòng, đi một vòng hành lang các tầng lúc mười một giờ, và trực hai cái thang máy.
Thực ra chỉ có một cái. Thang số hai hỏng đã lâu, cửa dán tờ giấy đánh máy ố vàng, chữ đã mờ. Thang số một là loại của Nhật đời cũ, buồng thang ốp tôn sơn kem, sàn lót tấm cao su đen có hoa văn hình thoi đã mòn nhẵn ở giữa. Bảng số đỏ trên cửa nhảy từng tầng một, kêu một tiếng tách khô khan mỗi lần đổi số.
Bảng nút bấm trong buồng thang không có số mười ba. Từ mười hai nhảy thẳng lên mười bốn. Tôi hỏi anh Quý, kỹ thuật ca ngày, người bàn giao cho tôi. Anh Quý tầm bốn mươi, béo, hiền, nói chậm.
"Thầu Đài Loan kiêng. Tầng mười ba là tầng kỹ thuật, bịt từ hồi hoàn công. Không ai lên. Chú cũng đừng để ý."
Tôi hỏi tầng kỹ thuật thì chứa gì. Anh Quý nghĩ một lúc, rồi nói anh làm ở đây năm năm mà chưa thấy ai vào đấy bao giờ. Bể nước ở trên mái. Máy bơm dưới hầm. Tủ điện dưới hầm. Anh không biết tầng mười ba có gì.
Người thứ ba trong ca đêm là bác Vượng, bảo vệ. Bác ngồi ở cái bàn gỗ cạnh cửa sảnh, có cái đài nhỏ, cái phích nước, và một cuốn sổ bìa cứng. Bác Vượng ở toà nhà này từ năm 1999. Lúc anh Quý giới thiệu tôi, bác bắt tay, hỏi tên. Tôi nói Toàn. Bác hỏi tên đầy đủ. Tôi nói Nguyễn Hữu Toàn.
Bác buông tay tôi ra hơi sớm. Bác gật gật, nói "thế à", rồi quay lại vặn đài.
* * *
Đêm đầu tiên trôi qua yên ổn tới gần hai giờ sáng. Tôi ngồi trong phòng kỹ thuật dưới hầm, cửa mở, nhìn ra sảnh. Phòng kỹ thuật có bàn, có đèn tuýp một bóng chập chờn, có cuốn sổ bàn giao ca bìa xanh ghi "Quyển 9" bằng bút dạ. Tôi lật mấy trang trước đó của anh Quý. Chữ to, đều. Lác đác có những dòng ghi lúc đêm, chữ khác, nhỏ hơn, nghiêng hơn, của người trực đêm trước tôi, anh Dũng. Dòng cuối cùng của anh Dũng đề ngày hai mươi mốt tháng ba, hai giờ mười ba phút.
"Thang 1 dừng tầng 13. Đi kiểm tra."
Dưới đó không có gì nữa. Trang sau là chữ anh Quý, ghi việc ban ngày.
Tôi đang nhìn dòng đó thì nghe tiếng thang máy chạy.
Tiếng rất rõ trong đêm, tiếng mô tơ rít lên trên nóc nhà, tiếng cáp căng, tiếng buồng thang lướt trong giếng. Không ai gọi thang cả. Tôi ra sảnh. Bác Vượng ngồi ngủ gật, đầu tựa tường, đài vẫn rè rè.
Bảng số đỏ trên cửa thang nhảy từng tiếng tách. Chín. Mười. Mười một. Mười hai.
Rồi nó hiện số mười ba.
Tôi đứng nhìn hai con số đỏ ấy. Cái bảng có thể hiện số đó, vì nó chỉ là hai chữ số điện tử. Nhưng không có nút nào để gọi thang lên đó. Thang dừng. Tôi nghe tiếng cửa buồng thang mở trên cao, tiếng kim loại miết vào nhau, xa, vọng xuống qua giếng thang.
Rồi có ba tiếng gõ.
Gõ chậm. Một. Nghỉ. Hai. Nghỉ. Ba.
Tiếng nặng và đục, như ai đó dùng cán búa gõ lên tấm tôn nóc buồng thang. Nó đi xuống dọc giếng thang và đến chỗ tôi đứng thì chỉ còn là ba cái rung nhẹ trong ngực.
Cửa trên cao đóng lại. Bảng số nhảy xuống. Mười hai. Mười một. Về tới một. Cửa mở.
Buồng thang trống. Đèn trần vàng ệch. Nhưng từ trong buồng thang phả ra một mùi tôi biết rất rõ, vì cả tuổi thơ tôi đã theo bố đi phụ hồ: mùi vữa xi măng ướt. Mùi bê tông vừa đổ, còn nóng, còn ẩm.
Tôi nhìn đồng hồ. Hai giờ mười ba phút.
* * *
Tôi quay vào phòng kỹ thuật, ngồi xuống, cầm bút. Tay tôi không run, nhưng tôi phải viết chậm hơn bình thường.
"2h13. Thang 1 tự chạy, dừng tầng 13. Có mùi vữa."
Tôi không nghe tiếng bác Vượng dậy, không nghe tiếng dép. Nhưng khi tôi ngẩng lên thì bác đứng ngay sau lưng, nhìn qua vai tôi xuống cuốn sổ. Mặt bác không có vẻ gì. Bác nói nhỏ, đều, như dặn một đứa trẻ:
"Đừng viết số đó. Dũng cũng viết số đó."