Chương 11: Trang cuối quyển một
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Tôi không trèo cửa sổ nữa. Tôi vào phòng ông Thịnh bằng cửa chính, ông ngồi trên giường gấp, và tôi nói tôi cần xem quyển một. Cả bìa sau.
Ông không hỏi làm sao tôi biết bìa sau có gì. Ông đứng dậy, mở tủ, lấy cái hộp các tông, đặt lên bàn, rồi ngồi xuống lại. Ông nói:
"Tôi dán nó từ tháng mười một năm 1998. Mỗi lần tôi bóc ra xem, tôi lại dán lại. Keo da trâu, mỗi lần một lớp. Chú lấy dao mà rọc."
* * *
Tôi rọc bằng con dao rọc giấy trong phòng kỹ thuật. Lớp keo dày, vàng, giòn, bong ra từng mảng như vảy. Dưới lớp keo là một tờ giấy, tờ cuối cùng của cuốn sổ, dán úp mặt chữ vào bìa.
Tôi lật ra.
Đầu trang, viết to, gạch chân hai nét: "BÀN GIAO CA".
Tôi không cần nhìn kỹ. Cái móc ở cuối mỗi chữ giờ đã quen tay tôi hơn chữ của chính tôi. Chữ trong lá thư ở Kiến Xương. Chữ trong tờ danh sách đội cốp pha. Chữ dưới dòng tôi viết ba đêm trước.
Mực xanh đã ngả nâu, cùng một độ phai với mực của những trang năm 1998. Cùng một thứ mực đã ăn vào thớ giấy, loang nhẹ ra chung quanh theo cách mực chỉ loang được sau rất nhiều năm. Tôi lật tờ giấy lên soi vào đèn. Mực thấm qua cả mặt sau, đều, từ dòng đầu tới dòng cuối. Không dòng nào mới hơn dòng nào.
"Lê Văn Hạnh. Kiến Xương, Thái Bình. Nhận ca đêm 13 tháng 8 năm 1998."
"Bàn giao cho: Vũ Đức Hùng. Ý Yên, Nam Định. 2001."
"Bàn giao cho: Trần Mạnh Tiến. Vụ Bản, Nam Định. 2005."
"Bàn giao cho: Hoàng Văn Dũng. Thanh Oai, Hà Tây. 2009."
"Bàn giao cho: Nguyễn Hữu Toàn. Ân Thi, Hưng Yên. 2012."
Dưới tên tôi, một dòng nữa đã bắt đầu. "Bàn giao cho:" rồi dấu hai chấm, rồi khoảng trống. Khoảng trống vừa đủ một cái tên và một cái quê và một con số năm.
Tôi đọc tên tôi trên tờ giấy ấy ba lần. Tôi đọc Hưng Yên. Tôi đọc 2012. Viết bằng mực đã phai mười bốn năm. Viết trước khi tôi mười hai tuổi, trước khi tôi biết Hà Nội có cái toà nhà này.
* * *
Ông Thịnh nói, từ cái giường gấp, giọng thấp, đều, như người đã tập câu này nhiều lần trong đầu.
"Sáng hôm sau ngày xây bít cửa tầng mười ba, tôi mở sổ ghi ca thì thấy trang cuối có chữ. Hai dòng đầu. Tên nó, và tên Hùng. Tôi không hiểu."
"Tôi tưởng thợ nào đùa. Nhưng không ai trong công trường viết được chữ ấy, vì chữ ấy là chữ nó, tôi đã thấy nó ký nhận lương. Tôi sợ. Tôi dán trang ấy vào bìa."
"Năm 2001, có thằng bé đến xin việc trực đêm. Tôi cầm chứng minh thư. Vũ Đức Hùng. Ý Yên. Tôi nhận. Tôi không nghĩ. Tay tôi nhận."
"Hùng làm bốn năm. Một đêm Hùng lên tầng mười ba. Sáng ra tôi bóc trang ấy, thì đã có tên Tiến. Mười ba ngày sau Tiến đến. Rồi Dũng. Rồi chú."
Tôi hỏi, giọng tôi không còn là giọng tôi nữa:
"Sao bác nhận. Bác đọc tên xong, bác đuổi người ta đi là được."
Ông Thịnh ngẩng lên.
"Hùng, tôi đuổi. Tôi bảo không tuyển. Thằng bé về Ý Yên. Mười ba đêm. Rồi em nó ra ao. Nó lên đây quỳ ở cửa phòng này xin tôi cho nó trực. Tôi hiểu từ đấy."
"Tôi không chọn, Toàn ạ. Tôi chỉ đọc. Người đến đúng tên thì là người nó đã gọi rồi, tôi nhận hay không nhận thì cũng thế, chỉ khác là có thêm ai chết ở quê người ta hay không."
Ông nhìn tờ giấy trên bàn.
"Tôi chưa bao giờ viết. Mười bốn năm tôi không viết một chữ vào trang ấy. Tôi muốn chú biết điều ấy, vì tôi không còn gì khác để nói cho chú."
* * *
Tôi ngồi với tờ giấy ấy lâu lắm. Bác Vượng buông tay tôi hơi sớm. Bà Lộc nói "Toàn à. Ừ." Tôi đã đọc hết những thứ ấy mà không hiểu, như ông Thịnh đọc sổ năm 1998.
Tôi hỏi ông câu cuối.
"Hùng bốn năm. Tiến bốn năm. Dũng ba năm. Ca cháu bao lâu?"
"Nó chỉ ghi năm nhận. Không ghi năm đi. Tôi không biết."
Tôi nhìn dòng trống dưới tên mình. Dấu hai chấm sau chữ "Bàn giao cho" đã sẵn đó, cũ bằng mọi thứ trên trang. Chỉ khoảng trống sau nó là còn trắng. Cái tên ấy chắc đã có rồi, trong một cái chứng minh thư nằm trong túi quần một người nào đó chưa biết gì cả.
Ngoài sảnh, bảng số đỏ bắt đầu tách tách. Thang chạy. Tôi gấp tờ giấy lại, không dán, để nguyên vào hộp, đưa cho ông Thịnh.
Ông lắc đầu, không cầm.
"Giờ chú giữ. Sổ bàn giao thì người đang trực giữ."