Chương 4: Cuốn vở dưới giường
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Tôi tìm thấy cuốn vở vào một đêm cúp điện.
Tối thứ tư, cả khu Linh Trung tối thui từ tám giờ. Quạt tắt, phòng hầm như cái lò. Tôi lấy đèn pin soi tìm cái hộp nến dưới gầm giường. Nến lăn vô sát chân tường, tôi phải nằm sấp, chui nửa người vô gầm. Lúc rút tay ra, mu bàn tay tôi quẹt trúng một thứ cứng, phẳng, dán dưới tấm ván giường.
Đó là một cuốn vở học sinh loại một trăm trang, bìa in hình con mèo máy, được dán bằng băng keo đục vào mặt dưới tấm ván. Băng keo đã ngả vàng, quăn mép. Tôi cạy ra, ngồi dựa tường, soi đèn pin đọc.
Trang đầu ghi tên bằng bút bi xanh, nét chữ nghiêng, gọn: "Lê Văn Thịnh, Nông học K38, phòng 6".
* * *
Mấy trang đầu là chép bài môn bảo vệ thực vật, có vẽ hình con rầy nâu. Tới trang hai mươi thì nét chữ khác đi. Không phải chép bài nữa. Mỗi trang là một ngày, đề ngày tháng ở góc.
"14 tháng Giêng. Dọn vô được một tuần. Tối nào cũng nghe tiếng dép lúc 11 giờ. Anh Tuấn phòng 5 nói kệ."
"20 tháng Giêng. Đếm được 14 bậc, rồi thêm 3 bậc, rồi đi tiếp. Đi trên trần phòng mình. Trên đó không có cầu thang thì lên bằng gì."
"2 tháng Hai. Tối qua nó gõ cửa. Ba cái. Mình không mở."
"9 tháng Hai. Sáng nay dép mình quay mũi ra ngoài. Trong kẽ móng chân có bụi xi măng."
Tôi lật tới đây thì dừng lại. Tôi soi đèn pin xuống bàn chân mình. Móng chân cái có một vệt trắng nhỏ, khô, kẹt sâu trong kẽ. Tôi lấy móng tay cạy ra. Nó vỡ vụn, mịn như bột, có mùi hăng của vôi.
Tôi đọc tiếp.
"17 tháng Hai. Hỏi cô Hạnh về ông chủ. Cô nói ổng té. Hỏi té ở đâu, cô không nói. Anh Tuấn cũng không nói."
"1 tháng Ba. Mình đi coi. Trên tầng ba có hai đôi dép. Một đôi dép kẹp đen, một đôi dép tổ ong. Dép tổ ong giống dép mình."
"5 tháng Ba. Không phải giống. Đúng là dép mình, dưới đế có chữ T mình khắc bằng kim chỉ. Tối qua mình đi ngủ, dép để ngoài cửa. Sáng nay dép vẫn ngoài cửa. Vậy cái trên tầng ba là cái gì."
"8 tháng Ba. Tối qua mình nghe tiếng dép trên trần. Tiếng dép tổ ong. Lạch bạch, lạch bạch. Đó là tiếng dép mình."
Trang sau trống. Trang sau nữa có một dòng, chữ viết run, ngoằn ngoèo, như viết lúc tay lạnh cóng.
"Tối nay mình mở cửa coi mặt ổng."
Không có ngày tháng. Sau đó là tám mươi trang trắng.
* * *
Sáng thứ năm, tôi chờ Tuấn đi làm về. Tôi đưa anh cuốn vở. Anh cầm, lật vài trang, rồi gấp lại, để lên đùi, hai tay đặt lên trên như sợ nó mở ra.
"Thịnh ở phòng mày trước mày. Ở chưa tới nửa năm."
Tôi hỏi giờ Thịnh ở đâu. Tuấn nói, cô Hạnh nói nó về quê. Ở Vĩnh Long. Đi lúc nửa đêm, không lấy đồ, không trả chìa khoá. Cô Hạnh gom đồ nó đem ra bãi đất sau dãy đốt. Có điện thoại cho nhà nó không, Tuấn nói không biết. Anh nói anh không hỏi.
Tôi hỏi, còn đôi dép kẹp đen trước ô số chín.
Tuấn châm điếu thuốc. Tay anh run, phải bật quẹt ba lần mới cháy.
"Thằng Lâm phòng bốn. Đi hồi Tết. Cũng về quê."
Anh im một lúc, rồi kể. Kể chậm, không nhìn tôi.
Tháng Chạp năm ngoái, ông Lực, chồng cô Hạnh, còn đang xây tầng ba. Ông làm một mình, tiết kiệm tiền thợ. Hôm đó ông đổ xong cái sàn hồi chiều. Tối cô Hạnh về Long An đám giỗ. Dãy trọ có bốn phòng có người: Tuấn, Lâm, và hai đứa nữa ở phòng sáu, phòng bảy, giờ đã chuyển đi.
Luật mười một giờ ở yên trong phòng là luật của ông Lực. Ông đặt ra vì sợ sinh viên dẫn bạn về nhậu, đánh nhau. Ông khó tính lắm. Mười một giờ ông đi một vòng hành lang, cầm cái bay gõ cửa từng phòng, ai không có trong phòng là ông ghi sổ, trừ tiền cọc.
Đêm đó, chừng mười một giờ, Tuấn nghe tiếng dép ông leo giàn giáo tre phía sau dãy, lên tầng ba, đi kiểm tra sàn mới đổ. Rồi nghe một tiếng rầm ở sân sau. Rồi tiếng ông kêu.
"Có ai không. Có ai không."
Kêu cả đêm. Giọng nhỏ dần.
Không ai ra. Tuấn nằm trong phòng, nghe từ đầu tới cuối. Anh nói anh tưởng ông thử. Ông hay thử sinh viên, gõ cửa giả để coi đứa nào dám ra hành lang sau mười một giờ. Anh nghĩ ra là bị trừ tiền cọc. Anh nghĩ vậy cho tới gần sáng, khi tiếng kêu tắt hẳn.
Sáng ra người ta thấy ông nằm sau dãy, cạnh đống gạch ống. Giàn giáo tre gãy một khúc. Đôi dép lê của ông văng mất một chiếc, tìm không ra.
Tuấn dụi điếu thuốc mới hút được một nửa.
"Hồi đó tao nghĩ ổng giận tụi tao. Thằng Lâm đi, tao nghĩ ổng bắt từng đứa. Nhưng Thịnh đâu có ở đây đêm đó. Nó dọn vô sau Tết mà."
Anh nhìn tôi. Mắt anh đỏ.
"Giờ tao không biết ổng muốn cái gì nữa."
* * *
Đêm đó, ngọn đèn tuýp hành lang chớp hai cái, rồi tiếng dép dừng trước cửa phòng tôi.
Cộc. Cộc. Cộc.
Lần này, sau tiếng gõ thứ ba, có một giọng nói. Giọng đàn ông, khàn, đặc, như người cổ họng đầy bụi xi măng. Nói rất gần, như miệng áp sát vào cánh cửa.
"Phòng sáu."