☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng gõ phòng bên

Chương 1: Căn phòng số 46

Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem

Tháng Chín năm 2005, tôi ba mươi hai tuổi, vừa ký hợp đồng thợ hàn với nhà máy đóng tàu bên sông Cấm. Quê tôi ở Giao Thuỷ, Nam Định. Vợ cũ tôi đã đi lấy chồng khác, tôi không còn gì để giữ ở quê ngoài cái mả bố. Tôi khoác ba lô lên xe khách, xuống bến Niệm, rồi đi tìm phòng trọ.

Ở Hải Phòng hồi ấy, phòng gần nhà máy đắt, phòng rẻ thì xa. Một ông thợ cùng tổ mách tôi khu tập thể ở phường Máy Chai, quận Ngô Quyền. Ông bảo có cô tên Hạnh có căn tiêu chuẩn của bố để lại, đang cho thuê, rẻ lắm, chỉ tội cũ.

Cô Hạnh chừng bốn mươi, nói giọng Hải Phòng chát chúa, đi xe Cúp tím. Cô dẫn tôi lên dãy B4, nhà năm tầng xây từ thời bao cấp, tường vôi vàng đã bong từng mảng, lộ gạch đỏ. Cầu thang tối, mỗi chiếu nghỉ có một bóng đèn tròn, cái sáng cái không. Hành lang tầng bốn chạy dọc mặt trước, mỗi nhà đặt một cái bếp than tổ ong ngay cửa, mùi than cháy dở quện với mùi nước giặt.

Căn cô cho thuê là phòng 46, gần cuối hành lang.

* * *

Phòng chừng hai mươi mét vuông. Một gian chính, một cái gác xép đóng bằng gỗ ván trên đầu cửa, một khu bếp với nhà tắm nhỏ phía sau thông ra cái chuồng cọp bằng sắt hàn. Tường quét vôi xanh nhạt, chỗ gần trần ố thành những vệt nâu như bản đồ. Trên tường có treo một tờ lịch bóc, loại lịch xé mỗi ngày một tờ.

Tờ lịch dừng ở ngày 14 tháng Bảy năm 1995.

Tôi hỏi cô Hạnh lịch của ai. Cô bảo của người thuê trước, một thằng bốc vác ở cảng, ở được hơn năm thì bỏ trốn, nợ ba tháng tiền nhà, để lại một thùng đồ trên gác xép. Mười năm nay cô cho thuê lại mấy lượt, không ai ở được lâu.

"Sao không ở được lâu hả cô?"

Cô Hạnh nhún vai, bảo tại phòng hướng tây, hè nóng như lò. Cô nói nhanh quá, mắt nhìn ra cửa. Rồi cô đưa tôi chùm chìa khoá, lấy trước ba tháng tiền nhà, dặn điện nước tháng nào chia tháng ấy với tổ dân phố.

Lúc cô quay đi tôi mới để ý căn bên cạnh, phòng 47, căn cuối cùng của hành lang.

Cửa gỗ sơn xanh đã bạc trắng. Hai dải giấy dán chéo qua khe cửa và ổ khoá, giấy vàng như lá chuối khô, mép quăn. Trên giấy có chữ đánh máy mờ và một con dấu đỏ đã nhạt thành màu gạch. Tôi chỉ đọc được mấy chữ "công an phường" và "tháng 8 năm 1995". Trước cửa không có bếp than, không có dép, chỉ có một lớp bụi mịn như phấn.

"Phòng kia làm sao hả cô?"

"Ông cụ ở đấy chết. Lâu rồi. Không có người thừa kế nên phường niêm phong."

Cô Hạnh nói đến đấy rồi dắt xe xuống cầu thang. Tiếng máy Cúp nổ dưới sân, xa dần.

* * *

Buổi chiều tôi quét dọn. Tôi gỡ tờ lịch cũ xuống, định vứt. Lật mặt sau thấy có chữ bút bi viết ngoáy, nét chữ trẻ: "Tối nay gõ không thấy." Tôi không hiểu, ném nó vào cái sọt rác cạnh bếp.

Cái giường sắt kê sát bức tường chung với phòng 47. Tôi định kéo nó ra nhưng chân giường đã gỉ dính xuống nền gạch hoa. Thôi, tôi nghĩ, kê đâu chẳng là kê.

Tối đến, tôi muốn có chỗ treo cái áo bảo hộ và cái mũ hàn. Tôi lấy búa với đinh trong ba lô ra, chọn chỗ tường ngay đầu giường. Tôi đóng.

Cộc. Cộc. Cộc.

Ba nhát. Cái đinh ngập vào lớp vữa. Tôi treo áo lên, ngồi xuống giường châm điếu thuốc.

Bên kia tường có tiếng gõ.

Cộc. Cộc. Cộc.

Ba tiếng. Không phải tiếng vọng. Tiếng vọng thì đến ngay, còn tiếng này đến sau một lúc, như người ta nghe xong, nghĩ một chút, rồi mới gõ. Nó trầm hơn tiếng búa, đục hơn, như gõ bằng khớp ngón tay vào tường.

Tôi ngồi im, điếu thuốc cháy dở giữa hai ngón. Bên kia tường là phòng 47. Phòng niêm phong mười năm. Tôi nghĩ có lẽ tiếng gõ từ phòng dưới, phòng 36, dội lên theo đường ống nước. Nhà tập thể cũ, tiếng động hay đi đường vòng.

* * *

Khoảng mười một giờ, cả dãy đã tắt đèn gần hết. Ngoài đường Lê Lợi xa xa có tiếng xe tải chạy về cảng. Tôi nằm trên giường, quay mặt vào tường. Vôi chỗ ấy lạnh hơn chỗ khác, cái lạnh ẩm như da người vừa tắm.

Tôi không biết vì sao mình làm thế. Tôi đưa tay lên, gõ hai cái vào tường bằng khớp ngón giữa.

Cộc. Cộc.

Tôi nín thở. Đồng hồ điện tử trên cổ tay tôi kêu tích tắc. Năm giây. Mười giây.

Cộc. Cộc.

Hai tiếng. Đúng hai. Từ ngay sau bức tường, chỗ ngang với mặt tôi, cách chừng một gang tay gạch và vữa. Không phải từ dưới. Không phải từ đường ống.

Tôi rụt tay về. Tôi nằm ngửa ra, nhìn lên cái gác xép tối om trên đầu cửa, nơi có cái thùng đồ của người thuê trước. Tôi tự bảo mình có khi ông hàng xóm nào bên dưới thức khuya trêu người mới đến. Dân tập thể vẫn thích trêu nhau.

Nhưng tôi biết dưới phòng 47 là phòng 37, và lúc chiều đi lên, tôi đã thấy phòng 37 cũng khoá, ngoài cửa treo cái biển "Bán nhà" viết bằng sơn đỏ.

Gần sáng thì tôi thiếp đi. Trong giấc ngủ chập chờn tôi nghe như có tiếng xé giấy, rất khẽ, từ phía cái sọt rác cạnh bếp.

Sáng ra tôi đi đánh răng. Cái sọt rác vẫn ở chỗ cũ.

Tờ lịch bóc tôi vứt hôm qua không còn trong sọt. Nó đã nằm lại trên cái đinh trên tường, vẫn dừng ở ngày 14 tháng Bảy năm 1995.