Chương 6: Về Thanh Oai
Khoảng 4 phút đọc·14lượt xem
Phòng kế hoạch tổng hợp nằm ở tầng một nhà A, do cô Minh văn thư giữ. Cô Minh sắp về hưu, thích người trẻ hỏi han. Tôi nói tôi làm chuyên đề về tử vong mẹ, cần xem sổ năm 2011. Cô lôi cho tôi một cuốn sổ bìa cứng bọc giấy xi măng, bụi bám đầy gáy.
Tôi tìm thấy ở trang tháng Mười một. Nguyễn Thị Nhàn, hai mươi sáu tuổi, thôn Cát, một xã ven sông Đáy thuộc huyện Thanh Oai. Vào viện ngày mười một. Sinh thường con trai ba cân mốt lúc hai mươi ba giờ. Đờ tử cung, băng huyết sau sinh. Tử vong ba giờ mười ngày mười hai.
Giường mười bốn phòng 303. Bác sĩ trực: Lâm. Người nhà ký nhận: mẹ đẻ, Trần Thị Tám.
Tôi ngồi im trước cái tên Lâm một lúc. Rồi tôi xin cô Minh cuốn sổ sơ sinh cùng năm.
Con trai của Nguyễn Thị Nhàn, chuyển phòng sơ sinh ngày mười hai. Viêm phổi sơ sinh nặng. Tử vong ngày mười bốn tháng Mười một. Hai ngày sau mẹ.
Không có đứa bé nào được bố đem về quê trong Nam.
* * *
Chủ nhật tôi chạy xe máy về Thanh Oai, ba mươi cây số, rẽ vào đường đê sông Đáy. Thôn Cát nằm dưới chân đê, có cái quán nước đầu làng dưới gốc gạo.
Bà bán nước ngoài sáu mươi, biết bà Tám. Cả làng biết bà Tám.
"Bà Tám ấy à. Goá từ hồi ba mươi, có mỗi cái Nhàn. Cả đời đan len thuê cho người phố huyện, cái làng này đứa nào bé chả mặc áo bà ấy đan."
"Thằng rể giấu bà ấy chuyện thằng cu. Bảo cháu đang nằm lồng ấp, yếu, chưa về được. Nó sợ bà biết cả hai cái chết một lúc thì ngã. Nó định để qua trăm ngày cái Nhàn rồi nói."
Bà Tám không đợi được trăm ngày. Sau đám con gái, cứ chiều là bà bắt xe buýt lên viện, mang theo túi len, ngồi ở phòng chờ đến sáng. Hỏi thăm cháu. Người ta bảo cháu bú tốt. Bà về, hôm sau lại lên. Bà đan được hơn chục cái áo trẻ con, màu nào cũng có, gỡ từ áo cũ trong nhà ra mà đan.
"Tháng Giêng năm sau bà ấy chết ngay trên ghế phòng chờ. Cảm lạnh. Sáng ra người ta thấy bà ấy ngồi dựa tường, kim còn trong tay. Thằng rể chôn mẹ vợ xong thì vào Nam, không về nữa. Nhà khoá đến giờ."
Tôi hỏi bà Tám có nói gì về những cái áo không. Bà bán nước rót thêm nước cho tôi, nghĩ một lúc.
"Có lần tôi hỏi bà ấy đan lắm thế cho ai. Bà ấy bảo đan cho những đứa chưa về. Tôi tưởng bà ấy nói thằng cu. Giờ nghĩ lại chả biết."
* * *
Tôi ra nhà bà Tám. Nhà cấp bốn ba gian, cửa gỗ khoá ổ khoá to đã gỉ, giàn mướp trước sân khô quắt chỉ còn dây. Tôi ghé mắt qua khe cửa. Trong nhà tối, mùi ẩm mốc. Tôi thấy một cái giường tre, một cái bàn thờ không hương khói, và dưới gầm bàn thờ là một cái thúng. Trong thúng có những cuộn len.
Nhiều màu. Ánh sáng không đủ để tôi nhìn rõ màu nào.
Tôi đứng đó một lúc lâu. Gió từ sông Đáy thổi qua chân đê mang mùi bùn. Phía sau tôi, chó nhà ai sủa rồi im.
Trên đường về, tôi dừng ở chợ Vác mua một túi sấu dầm. Tôi ăn hết túi sấu trước khi về đến Hà Đông, ăn ngấu nghiến, chua xé lưỡi mà vẫn thèm. Tôi vốn không thích đồ chua. Tôi nghĩ mình đi nắng nên khát.
* * *
Tối ấy tôi ghé qua khoa lấy cái sạc điện thoại để quên trong phòng trực. Không phải ca tôi. Khoa đã tắt bớt đèn, chỉ còn đèn hành lang. Tôi đi ngang phòng 303, theo thói quen nhìn vào góc trong cùng.
Trên tủ đầu giường mười bốn, bên cạnh cốc nước, có một cuộn len.
Tôi bước vào. Bảy sản phụ ngủ, có người ngáy khẽ. Tôi đứng trước cái tủ. Cuộn len to bằng nắm tay, cuốn chặt, sợi gợn sóng đều đặn của len đã từng đan rồi gỡ ra. Màu xanh rêu.
Tôi không cầm lên. Tôi nhớ lời chị Hạnh, đừng nhận gì bà đưa. Tôi lùi lại một bước, rồi một bước nữa, ra đến cửa.
Ngoài hành lang, tôi đưa tay sờ vạt áo len của mình. Tôi đang mặc nó, vì trời lạnh, vì tôi chỉ có một cái áo ấm tử tế. Tay tôi lần xuống gấu, bên trái. Chỗ sờn hôm trước to bằng đầu ngón tay. Giờ nó bằng đồng xu, và một sợi len dài đã tở hẳn ra, buông lủng lẳng xuống đùi tôi, đung đưa theo bước chân.