Chương 8: Chiếc áo len nâu
Khoảng 4 phút đọc·14lượt xem
Đêm trực sau, bác sĩ Lâm gọi tôi ra cầu thang. Ông ngồi ở bậc trên cùng, chỗ ông vẫn hút thuốc, cửa sổ cầu thang mở ra sân sau tối om. Ông châm thuốc, hút một hơi dài, rồi kể, không mở đầu.
Đêm ấy năm 2011 ông trực. Ông làm hết cách, thuốc co, chèn gạc, kẹp mạch, rồi đứng chờ máu. Cô Nhàn đi trên cái giường mười bốn, hai mắt mở nhìn trần.
"Tôi ra phòng chờ. Tôi định bảo bà cụ. Bà cụ hỏi trước, cháu bé bú được chưa. Tôi nhìn bà ấy ngồi đan, tôi nghĩ phải gọi cho thằng chồng trước, nghĩ sáng mai hãy nói, nghĩ đủ thứ. Tôi bảo bú tốt rồi."
Ông gạt tàn vào lon sữa bò.
"Tôi hèn. Mà tôi cũng mệt quá. Tôi về phòng trực ngủ. Sáng ra bà Thoa dẫn bà ấy xuống nhà xác. Tôi không dám ra."
Mấy tháng sau bà cụ cứ lên, cứ hỏi. Ông cứ tránh. Ông biết đứa bé mất, biết thằng rể giấu, và ông im.
* * *
"Tháng Mười một năm 2012 tôi thấy bà ấy lần đầu."
Ông nói câu ấy bằng giọng rất đều, giọng ông vẫn dùng khi đọc kết quả xét nghiệm. Bà ngồi ở ghế góc, đan một chiếc áo trẻ con màu nâu. Ông mặc áo len nâu bên trong áo trắng, cái áo vợ ông mua. Ông nghĩ mình thiếu ngủ. Ông đi qua, bà hỏi, ông nói bú tốt rồi, như phản xạ.
"Vợ tôi đang có bầu đứa thứ hai, ba mươi lăm tuần. Hai tuần sau cô ấy sinh ở chính khoa này. Rau bong non. Con không cứu được. Vợ tôi cắt tử cung."
Ông không mặc len từ đấy. Năm nào trời lạnh ông cũng chỉ mặc áo gió khoác ngoài.
Năm 2013, ông ra ngồi với bà cả một đêm. Ông kể hết. Cô Nhàn đi lúc nào, đứa bé đi lúc nào, thằng rể giấu bà ra sao, ông đã nói dối thế nào. Ông xin lỗi. Bà nghe, gật, bảo tôi biết. Rồi bà hỏi ông một câu khác.
"Bà ấy hỏi tôi còn đỡ đẻ không. Tôi bảo còn. Bà ấy bảo thế thì tốt. Rồi bà ấy lại đan."
Ông rít thuốc. Đầu lửa đỏ lên rồi tối.
"Bà ấy không chờ sự thật đâu. Hoặc sự thật không đủ. Hỏi tôi còn đỡ đẻ không... là hỏi tôi còn đứng gần mấy đứa trẻ ấy không. Bà không hại ai, cô ạ. Tôi tin thế. Bà biết trước thôi."
* * *
Tôi hỏi về màu len.
"Màu áo của người đứng gần đứa trẻ nhất lúc nó cần. Mẹ nó. Hoặc người đỡ nó. Năm 2012 là tôi. Tôi là người cầm dao."
Tôi kể cho ông nghe câu hỏi đêm trước. Nhà cô có mấy người. Ông quay sang nhìn tôi. Ánh đèn cầu thang vàng vọt làm mặt ông hốc hẳn đi.
"Cô trả lời sao?"
"Một mình."
Ông không nói gì. Ông nhìn xuống vạt áo len xanh rêu của tôi, nhìn chỗ gấu áo bên trái, chỗ tôi đã lấy kim chỉ khâu túm lại hai hôm trước mà sợi len vẫn tở tiếp. Rồi ông dụi thuốc.
"Mai tôi xếp cô trực ngày. Cô về ăn uống đi."
Tôi hỏi tại sao khoa vẫn dặn người mới nói bú tốt, nếu ai cũng biết câu ấy không giúp gì. Ông đứng dậy, phủi quần.
"Vì không ai dám nói khác. Và vì tôi nói khác rồi, nói thật rồi, xin lỗi rồi, mà bà vẫn đan. Nói gì cũng thế. Thì người ta chọn câu dễ."
Ông đi lên được ba bậc thì dừng lại, không quay đầu.
"Áo cô đẹp. Mẹ cô đan khéo. Nhưng đừng mặc nó đi trực nữa."
* * *
Tôi không nghe lời ông. Tôi chỉ có cái áo ấy là ấm, và đêm ấy lạnh chín độ.
Quá nửa đêm, tôi ra phòng chờ. Bà ngồi ở ghế góc như cũ, không ngồi trong phòng 303 nữa. Chiếc áo xanh rêu trên kim đã lên được ba ngón tay. Bà đan chậm, chậm hơn tất cả những chiếc trước, mỗi mũi như đếm.
Tôi đứng ở cửa, không vào. Bà hỏi câu quen. Và lần đầu tiên tôi không trả lời bú tốt. Tôi nói:
"Giường mười bốn vẫn trống, bà ạ."
Bà gật.
"Ừ. Trống."
Rồi bà đan tiếp. Tôi về phòng trực, cởi áo trắng, cởi áo len, gấp lại đặt lên bàn, ngồi run trong cái áo lót mỏng. Tôi nhìn cái áo len gấp trên bàn một lúc rồi cầm lên định mặc lại, vì không chịu được lạnh.
Tôi tròng qua đầu, kéo xuống. Và tôi đứng im.
Cái áo tôi mặc tám năm, rộng thùng thình từ ngày mẹ đan vì mẹ sợ tôi lớn, đêm ấy chật ở ngực. Chật đến mức tôi phải kéo vạt xuống cho khỏi cấn. Tôi đứng giữa phòng trực, hai tay giữ gấu áo, và không nghĩ được gì ngoài cái giọng khàn khàn của bà cụ nhắc lại hai chữ của tôi.
Một mình à.