Chương 6: Mâm cơm ngoài bến
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Cô Sáu nghe chuyện lá thư thì khóc một trận, rồi lau nước mắt bơi xuồng qua xóm trên rước ông Bảy Lành. Ông Bảy là thầy cúng của ấp, đám ma đám giỗ nào cũng có mặt, nhà ai có người bị hốt hồn cũng kêu ông. Ông ốm nhom, răng đen, đội cái nón cối sờn vành, đi đâu cũng xách cái giỏ đệm đựng chuông với sấp giấy vàng.
Ông vô buồng đứng nhìn bà ngủ một hồi lâu, không nói. Ông cúi xuống ngửi chỗ gối bà. Rồi ông đi ra, kêu ba với cô Sáu ra hiên.
"Đứa nhỏ chết đói thì nó đòi ăn. Cúng cho nó một mâm, kêu tên nó, nói cho nó biết đường về. Ở đây không phải nhà nó."
* * *
Chiều đó má nấu một nồi cơm mới, luộc trứng vịt, kho một nồi thịt nhỏ. Cô Sáu ra chợ mua bộ quần áo giấy con nít, áo cánh màu nâu, có đôi dép giấy. Ông Bảy dặn bày mâm ở bến rạch sau nhà, mặt mâm quay về phía sông lớn.
Chạng vạng thì cúng. Ông Bảy lấy tờ giấy hồng điều, viết bằng bút lông tên đứa nhỏ: Ngà, con gái bà Đỗ Thị Nhài, quê thôn Quang Đạo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông đọc to tên đó ba lần, tiếng ông khàn khàn trôi ra mặt rạch. Ông lắc chuông. Ông khấn bằng giọng ê a, nói về đường đi, về cửa nhà, về chuyện người chết thì phải về chỗ của người chết.
Cả nhà đứng sau lưng ông. Má đứng xa nhất, tay ôm khuỷu tay, mắt ngó xuống đất.
Tôi đứng gần cái mâm. Cái lắc bạc vẫn nằm trong túi quần. Tôi đã tính để nó lên mâm, để trả cho đứa nhỏ. Nhưng tay tôi không chịu rút ra.
Nhang cháy được nửa cây thì một chuyện lạ xảy ra. Ba cây nhang trong chén cơm cháy không đều. Hai cây hai bên cháy bình thường. Cây giữa cháy đi xuống một chút, rồi tàn nhang không rớt, mà cong lên, ngoắc ngược về phía nhà như một ngón tay chỉ.
Ông Bảy thấy. Ông ngừng khấn. Ông nhìn cây nhang một lúc, rồi lấy tay quạt tắt cả ba cây.
* * *
Ông Bảy đốt quần áo giấy dưới mé nước, rồi đổ mâm cơm xuống rạch. Chén cơm trắng úp xuống nổi lềnh bềnh một hồi mới chìm. Ông xách giỏ lên hiên, ngồi uống chén trà má rót, tay ông cầm chén mà run.
"Nó không đòi cơm."
Ba hỏi vậy nó đòi gì. Ông Bảy lắc đầu.
"Tui không biết. Đứa nhỏ này nó không đói cái bụng. Nó đói cái khác. Nó đòi lại đồ của nó. Nhà mình có ai đang giữ đồ của nó không?"
Tôi đưa tay lên túi quần. Tôi rút cái lắc ra, đặt lên bàn trước mặt ông. Ông nhìn cái lắc, không đụng vô.
"Không phải cái này. Cái này của nó, mà nó không đòi."
Má đứng dậy đi vô bếp. Tôi nghe tiếng má mở nắp nồi rồi đậy lại, mở rồi đậy, như người không biết mình vô bếp làm gì.
Lúc về, ông Bảy kêu tôi đưa ông ra đầu ngõ. Tới gốc dừa, ông dừng lại, cầm bàn tay tôi lật lên coi, nhìn lâu. Ông hỏi tôi tuổi gì. Tôi nói Đinh Mão. Ông gật đầu, như chuyện đó ông biết rồi.
"Tối, ai kêu con, con đừng trả lời liền. Đợi kêu tới lần thứ ba, nghe cho ra giọng ai rồi hãy dạ."
Tôi hỏi ông sao vậy. Ông nói ông già rồi, nói bậy, rồi đội nón đi mất.
* * *
Ba ngày sau đó, nhà yên.
Bà tỉnh hẳn. Bà nói giọng Nam, kêu tôi là nhỏ, đòi ăn cháo cá lóc, đòi uống nước dừa. Bà không nhắc gì tới Quang Đạo. Đêm không có mùi khói, tàu dừa xào xạc tới sáng. Ba đi ghe lại. Cô Sáu đem qua một con gà, nói bồi bổ cho bà.
Chiều thứ ba, tôi đút cháo cho bà xong thì bà giữ tay tôi lại. Bà nhìn ra cửa buồng, coi có ai không, rồi nói, chậm, từng chữ, bằng giọng Nam của bà.
"Năm đó nó lên sởi, nhỏ. Ông nội con nói ra Hải Phòng xuống tàu, con nít sởi người ta không cho lên. Ông nói đi trước, ổn rồi về rước. Bà để nó lại cho bà cố."
Bà thở một hơi dài, khò khè.
"Bà tưởng hai năm. Hai năm thì có gì đâu."
Tôi hỏi bà có biết nó mất hông. Bà nhìn tôi. Bà nói bà biết từ lâu rồi, trước khi có lá thư. Có một đêm bà nằm mơ thấy nó đứng ở đầu ngõ, ốm nhách, tay cầm nắm cơm, nó nói bu về chưa, thức dậy thì bà biết. Bà nói từ đó bà không đổ cơm.
"Bà giữ lại cái tên nó, nhỏ. Bà tưởng giữ được."
Tôi hỏi bà giữ chỗ nào. Bà không trả lời. Bà quay mặt vô vách.
* * *
Đêm thứ ba tôi ngủ ngon. Lần đầu tiên từ hồi về quê, tôi ngủ một mạch.
Tôi thức dậy vì cái hàm mỏi.
Hàm tôi đang nhai. Tôi biết mình đang nhai trước khi biết mình đã thức. Trong miệng tôi đầy cơm nguội, khô, dính lên vòm họng. Tôi muốn ngừng mà hàm vẫn đưa qua đưa lại, chậm, đều, như hàm bà hôm đầu tiên.
Tôi không nằm trên võng. Tôi đang ngồi trên nền gạch dưới bếp, lưng dựa vô chân bếp, trời còn tối.
Trước mặt tôi là nồi cơm. Sợi dây dù tôi cột hôm trước bị cắt đứt, hai đầu dây còn lòng thòng trên quai. Cây kéo của má nằm cạnh nồi, mũi kéo chĩa vô tôi.
Tay phải tôi đang nắm chặt một nắm cơm. Vo tròn, bóp dẹp. Trên mặt nắm cơm in dấu mấy ngón tay.
Ngón tay của tôi.