Chương 5: Má chết vì bệnh
Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem
Sáng hôm sau tôi không chạy đò. Tôi cột đò, treo tấm bảng "nghỉ" lên cây sào, rồi lên nhà trên ngồi trước mặt ba. Ba đang ngồi ở bộ ván, tay bột để trên đùi, trước mặt là ly cà phê đã nguội, không uống.
Tôi hỏi, má chết vì bệnh phải không ba.
Ba nhìn ly cà phê.
Tôi hỏi lại. Lần thứ ba thì tôi không hỏi nữa, tôi nói. Tôi nói về cây kẹp tóc trong trang thờ dưới gốc bần. Về tấm hình bị úp mười hai năm. Về cái gọi tôi là má ngay vách chòi. Về cái tên ba kêu đêm qua dưới mé nước. Nói xong tôi ngồi thở, và nhận ra mình đang khóc, mà không phải vì sợ.
Ba nói, rất lâu sau đó:
"Má mày chết đuối. Ngay bến này. Năm tám chín."
Tôi hỏi sao ba nói má bệnh.
"Mày năm tuổi. Nói sao cho mày hiểu. Rồi mày lớn, tao quen miệng. Rồi tao sợ."
Tôi hỏi sợ gì. Ba không trả lời. Ba đứng dậy, bước ra cửa, đứng nhìn xuống bến. Lưng ba gù xuống. Tôi chưa từng thấy ba gù.
"Chết đuối thì sao mà thành như vậy hả ba? Người ta chết đuối hoài, có ai về gõ mạn đò đâu."
Ba nói, không quay lại:
"Chết đuối mà chết thế cho người khác thì không đi được. Phải ở lại. Phải chờ."
Rồi ba bước xuống bến, một mình, và không nói thêm câu nào cho tới chiều.
* * *
Tôi qua chợ. Tôi cần nghe từ một người không phải ba.
Bà Bảy đang rửa tô. Thấy tôi bà không hỏi gì, lau tay vô vạt áo, kéo tôi ra sau quán, chỗ cái lu nước và mấy bụi chuối. Bà nói, hôm trước bà nói quên tên, là bà nói láo. Bà nhớ. Cả bến này ai cũng nhớ.
"Cô Thắm. Má mày. Tao biết mày là con cổ từ hồi mày còn ẵm ngửa, tao đâu dám nói."
Tôi hỏi má tôi chết thế nào.
Bà Bảy kể cái mà cả chợ xã kể suốt mười hai năm. Mùa nước năm tám chín, một đêm tháng Chín, bên cù lao có đám giỗ, ba tôi qua nhậu tới khuya. Má tôi ở nhà một mình với tôi.
Nửa đêm có chuyện gì không ai rõ, má bế tôi xuống bến, muốn qua sông kiếm ba. Đò ba tôi đem qua bên đó rồi, bến không còn ghe. Má lội. Nước lớn, nước xoáy chỗ gốc bần. Má đẩy được tôi lên cái bè chuối ai cột ở bến, còn má thì không lên được.
"Sáng ra người ta thấy mày nằm trên bè khóc, còn cô Thắm thì ba ngày sau mới nổi. Ba mày về tới nơi thì cổ chìm rồi. Ổng nhảy xuống mò suốt đêm, người ta phải kéo lên."
Bà Bảy ngừng, nhìn tôi.
"Cả chợ nói ba mày nhậu say để vợ chết. Nói sau lưng ổng ngần ấy năm, ổng hổng cãi một tiếng. Tao thì tao hổng tin. Sáu Đò mà say tới bỏ đò? Tao bán ở bến này, tao biết. Mà ổng hổng nói thì tao nói cái gì."
Tôi hỏi bà, cái dưới sông là má tôi phải không.
Bà Bảy lắc đầu, rồi gật, rồi lắc.
"Cổ chết thế cho mày thì cổ thành ma da, thế chỗ con ma da cũ. Luật dưới nước vậy đó con. Mà từ hồi đó tới giờ bến này đâu có ai chìm, mày nghĩ coi. Cổ hổng lấy ai, cổ chờ. Chờ cái gì tao hổng biết. Giờ cổ kêu đúng tên mày... tao sợ tao biết rồi."
Tôi đứng dựa vô cái lu, chân không còn sức.
* * *
Về nhà, ba đã dọn cơm. Hai cha con ngồi ăn trong im lặng. Ăn xong ba nói:
"Mai ba kêu thằng Út Lành qua chạy đò giùm. Mày lên Sài Gòn ở với dì Tám một thời gian."
Tôi nói con không đi.
"Mày đi. Tao đẻ mày ra, tao biểu mày đi là mày đi."
Tôi nói, ba kêu con đi để ở lại một mình với má hả. Ba đặt đũa xuống. Tay ba run tới nỗi cái chén lắc trên bàn. Ba không trả lời.
Đêm ấy ba khoá cửa chòi, bắt tôi ngủ trong nhà trên, còn ba nằm ở bộ ván ngoài hiên, chắn giữa cửa nhà và con đường xuống bến. Tôi nằm trong mùng, nhìn tấm hình má úp trên bàn thờ, không ngủ.
Trong mùng không có đồng hồ. Tôi biết nước đã ròng vì con thằn lằn trên vách thôi chắc lưỡi, và một hơi lạnh luồn vô mùng, lạnh ướt như hơi sông, trong khi nhà trên cách sông ba chục thước.
Tiếng gõ không đến từ mạn đò. Không đến từ cột chòi. Nó đến từ cánh cửa nhà trên. Cửa gỗ, cách đầu tôi ba thước.
"Cốc." Nghỉ. "Cốc."
Tiếng thứ ba không phải tiếng gõ. Nó là một tiếng cào, dài, chậm, từ trên xuống dưới, như móng tay kéo dọc thớ gỗ.
Từ bến lên nhà là ba chục thước đất khô. Dưới gầm cửa, trong ánh trăng lọt qua khe, tôi thấy nước rỉ vào. Một vệt nước mỏng, lan dần trên nền gạch tàu, đen bùn, tanh.
Ngoài hiên, ba tôi ngồi dậy. Tôi nghe ba nói, nhỏ, bình tĩnh, như nói với người nhà:
"Thắm. Đừng vô nhà. Thắm ở ngoài này nói chuyện với anh."
Vệt nước ngừng lan. Rồi rút. Từ từ, như có ai kéo nó về.
Sáng ra, trên cánh cửa gỗ, ngang tầm bụng người lớn, có hai vết bùn tròn bằng đầu ngón tay. Dưới hai vết bùn là một đường cào dài, xước sâu vô thớ gỗ. Cuối đường cào còn kẹt một mảnh móng tay, đen bùn.
Ba lấy dao cạo đường cào, cạo lâu lắm. Ba cạo mà không ngước lên nhìn tôi lần nào. Tôi đứng coi, nhớ câu thầy Tư nói ở gốc bần: nhà anh còn một người chưa biết. Tôi biết rồi. Mà nhìn lưng ba, tôi hiểu tôi vẫn chưa biết hết.