Chương 1: Tờ lịch kẻ chữ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Khu ký túc xá tôi ở năm ấy là khu B, nhà bốn tầng xây từ thời bao cấp, tường quét vôi vàng đã loang thành bản đồ. Trường sư phạm của tôi nằm dưới một quả đồi cọ phía tây thành phố Thái Nguyên. Sinh viên gọi khu B là "nhà cổ", vì cầu thang mòn lõm ở giữa, vì vòi nước chỉ chảy buổi sáng, và vì tầng bốn mùa đông lạnh như ngoài sân.
Phòng tôi là phòng 412, gần cuối dãy tầng bốn. Phòng có ba giường tầng sắt, sáu chỗ, nhưng hai chị năm cuối đi thực tập ở Phú Lương nên chỉ còn bốn đứa. Tôi là Lành, Nông Thị Lành, học năm hai khoa Văn, người Tày ở Trùng Khánh. Hằng người Phú Thọ, học Sử, to mồm, dám làm. Nguyệt người Nam Định, học Toán, trắng, nói nhỏ, hay giật mình. Dịu người Nùng ở Lạng Sơn, học Sinh, tối nào cũng quỳ ở đầu giường lẩm nhẩm gì đó mà không ai hỏi.
Đầu tháng Mười Hai năm 2006, một đợt rét đậm tràn về. Sáng ra, sương muối đọng trắng trên mấy bụi cỏ lau sau khu B. Nước trong xô để qua đêm đóng một lớp váng mỏng. Bốn đứa tôi ăn mì tôm nấu bằng cái bếp điện dây xoắn giấu dưới gầm giường, vì quản lý cấm cắm bếp. Tối nào cũng trùm chăn ngồi một giường cho ấm, kể chuyện quê, chuyện người yêu, rồi hết chuyện.
Hằng là đứa nghĩ ra trò cầu cơ. Nó nghe một chị khóa trên kể, hồi chị ấy ở khu này cũng có phòng cầu cơ, "cơ lên" nói đúng cả tên người yêu cũ của một đứa.
"Chơi đi. Rét thế này đi đâu được. Không có gì thì thôi, mất gì."
Dịu lắc đầu ngay. Nó nói ở quê nó, ai bày trò ấy là bị người già mắng, gọi người dưới đất lên rồi không biết đường mà tiễn. Nguyệt nhìn tôi. Tôi thì tò mò. Ở Trùng Khánh, bà tôi có đi xem then, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ai gọi hồn bằng đồng xu.
Hằng xé tờ lịch treo tường của tháng Mười Một, lật mặt sau trắng. Nó lấy thước kẻ một cái khung, viết hai mươi sáu chữ cái không dấu thành ba hàng, mười chữ số bên dưới. Góc trái ghi CÓ, góc phải ghi KHÔNG, ở giữa vẽ một vòng tròn bằng cái chén. Nó bảo đồng xu phải đặt trong vòng tròn ấy, gọi xong mới thả tay.
Chỉ thiếu đồng xu. Tiền xu mới thì đứa nào cũng có, nhưng Hằng bảo phải xu cũ, xu mới nhẹ quá, "cơ không về".
Tôi tìm được nó ở khe cửa sổ. Cửa sổ phòng 412 là khung gỗ cũ, sơn xanh bong từng mảng, chỗ bản lề có một cái khe đầy bụi. Tôi lấy que lau bụi thì một vật tròn rơi ra, kêu leng keng trên nền xi măng. Một đồng năm hào nhôm, loại tiền cũ từ hồi tôi chưa đi học, xám ngoét, một mặt in quốc huy, một mặt in số 5 to tướng.
"Đây. Đồng xu của phòng mình," Hằng reo lên. "Thế là có duyên rồi."
Nó thổi bụi đồng xu, chùi vào vạt áo, rồi đặt vào vòng tròn. Tắt điện, chỉ để một ngọn nến trên nóc tủ. Ba đứa, Hằng, Nguyệt và tôi, mỗi đứa đặt một ngón trỏ lên đồng xu. Dịu ngồi trên giường tầng trên, kéo chăn trùm đầu, chỉ thò mắt ra.
Hằng đọc câu mời mà chị khóa trên dạy. Đọc ba lần. Lần nào cũng thêm câu "ai ở trong phòng này thì lên nói chuyện với chúng em".
Mười phút không có gì. Ngón tay tôi tê đi vì rét. Tôi đã định rút tay về thì đồng xu trượt.
Không phải trượt kiểu ai đẩy. Nó giật một cái nhỏ, như con dế bị chạm vào lưng, rồi đi. Chậm, đều, lướt trên mặt giấy, kéo ba ngón tay chúng tôi đi theo. Nó đi thẳng lên góc trái. CÓ.
Nguyệt rụt tay về, đồng xu dừng ngay. Hằng gắt nó đặt tay lại. Nguyệt đặt lại, ngón tay run.
"Ai đấy ạ?" Hằng hỏi.
Đồng xu đi chậm qua các chữ. Tôi đọc to từng chữ một, giọng mình nghe lạ hoắc trong phòng tối. C, H, I. Dừng. T, H, O, A.
"Chị Thoa," Hằng thì thầm. "Chị ở đâu ạ?"
Đồng xu đi xuống hàng số. 8, 9. Rồi trượt lên hàng chữ. P, H, O, N, G, N, A, Y.
Tám chín. Năm 1989. Phòng này.
Tôi không biết ai đặt câu hỏi tiếp theo, vì đúng lúc ấy tôi ngửi thấy một mùi.
Mùi thuốc lá. Không phải thuốc lá đầu lọc thơm thơm mà bọn con trai khoa Thể dục hay hút ở căng tin. Mùi thuốc lá nặng, khét, hăng như rơm ướt bị đốt. Bố tôi hút loại ấy những năm tôi còn bé, bao Điện Biên giấy mềm, vỏ xanh trắng. Ngồi trong bếp nhà sàn, khói ấy bám vào cả tóc mẹ tôi.
Trong phòng 412 không ai hút thuốc. Cửa ra hành lang đóng, cửa sổ đóng, ngoài trời rét căm căm.
"Chúng mày có ngửi thấy gì không?" tôi hỏi.
Hằng gật. Nguyệt gật. Trên giường tầng trên, Dịu nói khẽ, giọng khàn đặc:
"Thôi đi. Tiễn đi. Tao xin chúng mày đấy."
Hằng làm theo lời chị khóa trên, cảm ơn và mời "chị" về. Đồng xu đi về vòng tròn giữa rồi nằm im. Chúng tôi rút tay, bật điện. Cái bóng đèn tuýp chớp ba bốn lần mới sáng hẳn.
Mùi thuốc lá vẫn còn. Nó lởn vởn quanh góc giường của Nguyệt suốt đến lúc chúng tôi đi ngủ, rồi mới nhạt dần.
Tôi cầm đồng xu lên định cất vào hộp bút. Nó nóng. Không phải cái ấm âm ấm của vật vừa nằm dưới ba ngón tay người. Nóng như vừa nhấc ra khỏi nồi nước sôi, nóng đến mức tôi buông tay, đồng xu rơi xuống tờ lịch, nằm ngửa, phơi con số 5 ra dưới ánh đèn.