☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn cơ trên tầng bốn

Chương 10: Đồng năm hào mòn

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chúng tôi về đến khu B lúc gần mười giờ đêm, trên chiếc xe máy Minsk của chồng chị Thoa, anh chở cả hai chị em đi suốt ba tiếng đường đèo trong sương. Bác Quảng đứng chờ ở cổng. Hằng đã chạy xuống gọi bác từ chập tối. Bác không hỏi gì, chỉ nhìn chị Thoa một lúc lâu dưới ánh đèn cổng, rồi gật đầu, như gặp lại một người quen cũ.

"Con bé ở trên ấy. Bác với hai đứa kéo mãi không ra."

Hành lang tầng bốn chật người. Sinh viên các phòng đứng túm tụm ở cửa, khoác chăn, thì thầm. Cô Mến cầm cái đèn pin to, tay run. Cửa kho đệm mở toang. Bên trong tối, chỉ có ánh đỏ đục của cái vòng dây dưới gầm bàn.

Nguyệt ngồi trên nền nhà trước cái bàn, hai chân xếp lại như học trò ngồi chờ, tay chìa ra. Dịu quỳ cạnh nó, ôm ngang lưng nó, môi mấp máy không ngừng. Hằng đứng ở cửa, mặt nhòe nước mắt.

Chị Thoa bước vào. Tôi theo sau. Mùi thuốc lá, mùi rượu, mùi khét của vải cháy xộc lên. Cái ghế gãy chân sau bàn kêu một tiếng cót, rồi im bặt.

Chị đứng trước bàn, đúng chỗ mười bảy năm trước chị đứng. Chị không chìa tay. Chị lấy cái khăn mùi xoa trong túi ra, mở, đặt đồng năm hào lên mặt bàn phủ bụi.

"Tôi là Thoa đây. Hoàng Thị Thoa, phòng bốn trăm mười hai." Giọng chị không to, đều, như giọng đọc thơ trong lớp học chiều nay.

"Tôi chưa chết. Tôi đi dạy học, tôi có chồng, có con. Tên tôi, ông trả lại cho tôi. Đồ của ông, tôi trả lại cho ông. Từ nay ông không có gì ở cái phòng ấy nữa."

Ánh đỏ dưới gầm bàn chập chờn, như than bị gió thổi. Đồng xu trên bàn rung lên, kêu lách tách trên mặt gỗ. Rồi cái vòng dây đỏ tắt phụt. Kho tối om.

Nguyệt thở hắt ra một hơi dài, rồi ngả vào lòng Dịu. Lúc cô Mến rọi đèn pin vào, tay nó đã buông xuống đùi, nắm lại, không còn chìa ra nữa.

Sáng hôm sau, cô Phụng dẫn chị Thoa lên phòng hiệu trưởng. Thầy hiệu trưởng năm ấy mới chuyển về, không biết chuyện cũ. Cô Phụng đặt quyển sổ nội trú lên bàn thầy, kể lại năm 1989, kể cả chuyện mình đã không đứng ra. Bác Quảng lên làm chứng chuyện ông Thiều chết. Chuyện các bạn gái khác thì không ai kể, vì những người ấy không có mặt ở đây, và chị Thoa bảo chuyện của ai thì người ấy quyết.

Thầy hiệu trưởng nghe hết, rồi im lặng lâu lắm. Cuối cùng thầy bảo, nỗi oan năm ấy nhà trường sẽ làm văn bản gửi về địa phương, còn khu B thì phải làm lễ.

Tuần sau, nhà trường mời sư thầy chùa trên đồi xuống. Kho đệm được dọn sạch. Cái bàn, cái ghế, cái bếp điện được khiêng ra sân sau khu B. Sư thầy tụng kinh ở cuối hành lang tầng bốn từ sáng đến trưa. Tờ lịch kẻ chữ, Hằng tự tay mang xuống, đặt lên đống củi cùng cái bàn. Lửa bén vào tờ giấy trước, cong lên, chữ CÓ và chữ KHÔNG cháy cùng một lúc.

Sư thầy bảo tôi, đồ của người chết mà người sống cất giữ thì người chết hay đi theo đồ mà về. Đồng xu nằm trong khe cửa phòng 412 mười bảy năm, ông ta tìm đồng xu thì tìm thấy phòng. Bọn tôi lôi nó ra, gọi tên mời về, là mở cửa cho ông ta. Ông ta gọi đứa nằm gần cửa, vì ngày trước ông ta vẫn gọi những đứa dễ gọi nhất. Ông ta bảo chúng tôi đi tìm "người biết", vì người duy nhất từng dám đẩy ông ta ra, ông ta chưa bao giờ buông được.

Đồng năm hào thì sư thầy bảo cho vào lửa. Tôi ném nó vào. Lửa tàn, tôi lấy que cời lật đống tro tìm. Nó nằm dưới tro, đen sì, không chảy, không méo.

Tôi đem rửa dưới vòi nước. Mặt quốc huy vẫn còn nguyên. Mặt kia nhẵn bóng. Con số 5 không còn nữa, như ai đã miết ngón tay lên nó suốt mười bảy năm cho đến khi mòn hết.

Chị Thoa bảo tôi giữ lấy.

"Không còn sấp ngửa gì nữa đâu," chị nói. "Em giữ, đừng để đứa nào đem ra chơi."

Chị về Chợ Đồn chiều hôm ấy. Đầu năm sau, nhà trường gửi giấy về xã Bằng Lãng, xác nhận Hoàng Thị Thoa không có lỗi trong vụ việc năm 1989. Mẹ chị đem tờ giấy ra đặt lên bàn thờ, thắp hương báo với bố chị. Cô Phụng về hưu năm 2007, mùa hè ấy cô lên Chợ Đồn ở chơi nhà chị Thoa ba ngày. Tôi không biết hai cô trò nói gì với nhau.

Nguyệt không mộng du lần nào nữa. Vết bầm ở cổ tay nó tan sau hai tuần, nhưng nó không bao giờ ngủ giường sát cửa nữa, ở đâu cũng vậy. Hằng ra trường về dạy Sử ở Phú Thọ, học trò nào nhắc đến cầu cơ là bị nó phạt chép bài. Dịu lấy chồng ở Lạng Sơn, mỗi năm vẫn gửi cho tôi một túi vỏ bưởi phơi khô. Kho đệm cuối hành lang thành phòng tự học, lắp đèn sáng trưng. Bác Quảng mất năm 2011. Khu B bị phá năm 2015 để xây nhà mới.

Tôi về dạy văn ở một trường cấp hai trên Trùng Khánh. Đồng năm hào nằm trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi, trong một cái hộp sắt nhỏ đựng ghim.

Mùa đông nào, có rét đậm về, tôi cũng mở ngăn kéo lấy nó ra, cầm một lúc. Nó lạnh, như mọi đồng xu khác. Tôi biết thế, nhưng năm nào tôi vẫn phải cầm lên một lần mới yên tâm.