☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn cơ trên tầng bốn

Chương 9: Người mượn tên chị

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Chị Thoa cho học sinh nghỉ sớm. Chị dắt tôi về căn phòng tập thể giáo viên sau trường, phòng chị ở những hôm trời mưa không về được nhà. Chị đun nước trên bếp điện, rồi nhìn cái bếp, rút phích ra, chuyển sang đun bằng bếp dầu. Suốt lúc ấy chị không nhìn đồng xu. Tôi đã nhặt nó lên, bọc trong khăn mùi xoa, để trên bàn.

Tôi kể. Kể từ tờ lịch tháng Mười Một, kể đến cái kho đệm, kể đến cổ tay Nguyệt. Tôi kể rằng có người xưng là chị Thoa, chết trong phòng 412 năm 1989, nhờ các em tìm hộ.

Chị Thoa nghe đến đó thì cười. Một tiếng cười ngắn, khô, không có gì vui.

"Chị còn sống đây, em ạ."

Rồi chị mở cái khăn mùi xoa ra, nhìn đồng xu một lúc lâu, không chạm vào.

"Cái này của ông ta."

Chị kể chậm. Có những đoạn chị dừng lại rất lâu, nhìn ra cửa sổ, nơi sương đã xuống trắng sân trường. Tôi chép lại đây đúng những gì chị muốn tôi kể, không hơn.

Ông Thiều năm ấy ngoài năm mươi, người dưới xuôi, quản lý khu B đã lâu. Ông hút thuốc lá Điện Biên bao mềm, hút liền tay, ngón trỏ ngón giữa vàng khè. Tối nào cũng uống rượu ngô, mùa đông thì cắm cái bếp điện dây xoắn dưới gầm bàn mà sưởi chân. Ông nói năng nhỏ nhẹ, gọi nữ sinh là "cháu", khen đứa nào nghe lời là "ngoan".

Ông giữ thẻ sinh viên, phiếu cơm của các em. Muốn lấy lại thì tối lên phòng trực, một mình. Ông bắt đứng trước bàn, chìa tay ra, ngửa lòng bàn tay. Ông búng đồng năm hào trên mặt bàn, cho nó quay, rồi úp lòng bàn tay lên.

"Ông ta bảo, ngửa thì cháu cầm thẻ về. Sấp thì cháu ở lại nói chuyện với chú một lúc." Chị Thoa nói, giọng phẳng như đọc chính tả. "Lần nào cũng ra sấp. Hai mặt nó có khác gì nhau đâu, ông ta muốn đọc mặt nào thì đọc."

Chị không kể "nói chuyện một lúc" là gì. Tôi không hỏi.

Tối mười một tháng Mười Hai năm 1989, chị lên lấy thẻ. Đồng xu ra sấp. Ông ta đứng dậy. Chị đẩy ông ta ngã vào cái ghế tựa, chân ghế gãy, cái bếp điện đổ. Chị giật lấy thẻ, tiện tay giật luôn đồng xu trên bàn, chạy xuống phòng. Chị nhét đồng xu vào khe bản lề cửa sổ phòng 412, định sáng hôm sau mang xuống cho cô Phụng làm bằng chứng. Chị nghĩ, ông ta không bao giờ rời đồng xu ấy, mất nó ông ta sẽ biết là chị lấy, sẽ biết chị dám.

"Sáng hôm sau chị đi tìm, không thấy nữa. Khe ấy sâu, nó tụt xuống tận đâu. Ba hôm sau thì người ta khám rương."

Phần còn lại tôi đã nghe cô Phụng kể. Chị chỉ nói thêm một câu: lúc lập biên bản, ông Thiều ghé sát tai chị mà nói, "cháu không ngoan thì cháu về".

"Chị về. Bốn năm sau, một đứa bạn cùng phòng viết thư lên, bảo ông ta chết rồi." Chị Thoa nhìn tôi.

"Chết trong phòng trực, cuối hành lang tầng bốn. Mùa đông năm chín tư. Say rượu, ngủ gục trên bàn, cái bếp điện cắm dưới chân cả đêm, bén vào ống quần. Cửa khóa trong. Ba hôm sau sinh viên ngửi thấy mùi mới gọi người phá cửa."

Tôi ngồi lặng đi. Mọi thứ trong đầu tôi tự xếp lại, nhanh đến mức tôi buồn nôn.

Mùi thuốc lá Điện Biên trong phòng con gái. Mùi rượu ngô. Đồng xu nóng rát như vừa nhấc khỏi bếp.

"Chị" biết quê chị Thoa mà không biết chị học khoa nào, vì ông ta chỉ đọc quê trong sổ, chưa bao giờ hỏi chị học gì. "Chị" hỏi đứa nào ngủ gần cửa. "Chị" khen Nguyệt ngoan. "Chị" bảo Nguyệt lên một mình. Lúc giận, "chị" quên mình đang đóng vai ai, buột ra chữ "cháu".

Nguyệt đứng trước cửa kho chìa tay ra, lòng bàn tay ngửa, chờ một đồng xu. Nguyệt nói trong giấc ngủ, bằng giọng không phải giọng nó: "Thôi. Mai lên mà lấy."

Không có chị Thoa nào chết oan trong phòng 412. Chỉ có một người đàn ông chết cháy vì rượu ở cuối hành lang, mười hai năm sau vẫn ngồi ở cái bàn ấy. Ông ta mượn tên người con gái duy nhất từng dám đẩy ông ta ra. Mượn nỗi oan mà chính ông ta gây ra. Vì biết các cô gái mới lên sẽ thương một người chị chết oan, sẽ mở cửa cho chị.

"Nó mượn tên chị," chị Thoa nói. Chị không gọi ông ta là ông nữa. "Mười bảy năm rồi mà nó còn lấy cái tên ấy của chị."

Chị đứng dậy, vào trong buồng, một lúc sau đi ra, đã mặc áo khoác, quàng khăn, cầm cái túi xách.

"Em đợi chị gửi con cho bà. Chị xuống với em."

Trước khi đi, tôi mượn điện thoại bàn của trường gọi về cho Hằng. Chuông đổ rất lâu. Rồi Hằng nhấc máy, giọng nó nghẹn lại như vừa khóc xong.

"Lành ơi. Tờ lịch. Không có đồng xu mà nó vẫn chạy. Mày nghe tao này. Trên giấy có mấy vết cháy, mỗi vết một chữ. Tao với Dịu ghép lại rồi."

Tôi hỏi nó ghép ra chữ gì.

"T, H, O, A, V, E, A. Thoa về à."

Rồi đầu dây bên kia có tiếng Dịu gọi to tên Nguyệt, và tiếng một cánh cửa sắt va vào tường.