Chương 1: Điểm trường bên hồ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi lên Quỳnh Nhai dạy học vào tháng Tám năm 2015, hai mươi ba tuổi, vừa ra trường sư phạm được ba tháng. Điểm trường tôi dạy thuộc một xã ven hồ, gọi theo tên bản là điểm Phiêng Lứa. Hai lớp học xây cấp bốn, mái tôn, một gian nhà công vụ cho giáo viên, cái sân đất nện có cột cờ bằng ống nước. Đứng ở sân nhìn xuống là hồ thủy điện, rộng như biển, xanh đục, bờ bên kia là núi.
Bản Phiêng Lứa bây giờ là bản mới. Bản cũ nằm dưới hồ. Năm 2008 người ta bắt đầu kê khai, đến năm 2010 nước dâng thì cả bản đã dời lên lưng đồi này, nhà sàn dựng lại trên nền đất san ủi, cột kèo cũ tháo từ dưới mang lên. Người già trong bản chỉ tay xuống mặt nước, bảo chỗ kia là ruộng nhà tao, chỗ kia là suối, chỗ kia là cây gạo đầu bản. Tôi nhìn theo, chỉ thấy nước.
Bố tôi không muốn tôi lên đây. Bố làm cán bộ huyện hai mươi năm, nghỉ hưu từ năm 2012, nhà tôi ở thành phố Sơn La. Hôm tôi báo được phân về Quỳnh Nhai, bố đang đẩy kính lão lên trán rót nước chè, tay run, rót tràn ra mặt bàn mà không biết. Bố bảo xin về huyện khác, bố quen người, bố xin được. Tôi không chịu. Tôi muốn tự đi, không muốn ai bảo mình là con ông nọ ông kia.
Bố không nói thêm. Sáng tôi đi, bố dậy sớm, lấy bút bi viết lên cái túi vải đựng sách của tôi mấy chữ "Nguyễn Thu Hà, Quỳnh Nhai". Chữ bố tôi rất riêng. Mỗi dấu hỏi bố viết thành một cái móc ngắn quay ngược, nhìn như dấu sắc bị gãy. Hồi bé tôi hay bị cô giáo trừ điểm vì bắt chước kiểu ấy. Cái túi tôi dùng suốt năm học, chữ bố bạc dần mà không mất.
Học trò điểm Phiêng Lứa toàn trẻ con người Thái, hai mươi sáu đứa, ghép lớp ba với lớp bốn. Ở nhà các em nói tiếng Thái, lên lớp mới nói tiếng phổ thông, câu cú lộn đầu lộn đuôi. Có cô Lò Thị Thơm, người bản, dạy lớp một lớp hai bên điểm trường chính, cuối tuần hay sang ở với tôi, dạy tôi được dăm câu chào hỏi.
Tháng Ba năm 2016, một thằng bé bản bên, chín tuổi, đi chăn trâu ven hồ rồi không về. Ba hôm sau người ta tìm thấy nó mắc trong đám rác nổi ở một cái eo. Đám ma làm ở bản nó, tôi không đi. Nhưng chiều hôm đó lớp tôi vắng tám đứa, vì bố mẹ chúng giữ ở nhà.
Cô Thơm bảo năm nào hồ cũng lấy đi một hai đứa. Trẻ con ở đây sống cạnh nước mà phần lớn không biết bơi. Hồi bản cũ còn ở dưới suối thì suối cạn, chỗ sâu nhất ngang ngực người lớn, chẳng ai cần bơi. Bây giờ nước sâu mấy chục mét, đứng ở bờ thả chân xuống là hụt.
Tôi biết bơi. Tôi học ở bể bơi thành phố từ năm lớp năm. Tối hôm ấy tôi ngồi viết một tờ kế hoạch: cuối tháng Tư, khi nước rút, bờ thoải ra, tôi sẽ dạy bơi cho học trò vào chiều thứ Bảy và Chủ nhật. Phao làm bằng can nhựa hai mươi lít. Chỗ tập là cái vũng nông dưới chân trường, có bãi đá.
Sáng thứ Hai tôi để ý thằng Quàng Văn Pâng, lớp bốn, đi khập khiễng. Nó là đứa nghịch nhất lớp, hay trèo cây sấu đầu sân hái quả. Tôi gọi nó lên bàn, bảo kéo ống quần lên.
Quanh cổ chân trái nó có một vòng tím. Không phải vết xước, không phải bị dây cứa. Một vòng đều, rộng chừng hai đốt ngón tay, tím ở giữa, vàng ở rìa, giống chỗ ai cầm chặt và giữ rất lâu.
"Em ngã à?"
Pâng lắc đầu. Mấy đứa bàn đầu nhìn nhau rồi cúi xuống vở. Tôi hỏi lại. Nó nói nhỏ, mắt nhìn ra cửa sổ, phía hồ.
"Phi nặm, cô giáo. Nó nắm."
Cô Thơm sau này giải thích phi nặm là ma nước. Pâng kể hôm Chủ nhật nó đi cắt cỏ cho trâu ở mép hồ dưới gò, lội xuống đến bắp chân thì có cái gì nắm cổ chân nó, kéo ra phía ngoài. Lạnh, chặt, như cái vòng sắt. Nó ngã sấp, uống nước, hai tay bấu vào bụi cỏ gianh mới lên được. Về nhà nó không dám kể với bố, sợ bị đánh vì ra hồ một mình.
"Dây rừng quấn đấy em ạ. Dưới nước còn bao nhiêu cây cũ."
Tôi nói thế, xoa dầu gió vào cổ chân nó, rồi cho về chỗ. Cả lớp im phăng phắc. Một đứa con gái ngồi cuối lớp, con Lò Thị Lả, giơ tay. Tôi tưởng nó xin ra ngoài.
"Cô giáo ơi, phi nặm không phải dây. Phi nặm có tay."
Tôi bảo các em mở sách ra trang bốn mươi hai.
Tối hôm đó trời oi. Gian nhà công vụ của tôi quay cửa sổ ra hồ, cách mép nước chừng trăm mét theo đường dốc. Tôi chấm bài dưới bóng đèn tuýp, máy phát điện của bản đã tắt từ lâu, đèn chạy bằng điện lưới mới kéo về, chập chờn mỗi khi có gió. Ngoài kia ếch nhái kêu dày đặc từ những vũng nước đọng ven hồ.
Rồi ếch nhái ngừng kêu.
Không phải ngừng dần. Như có ai cắt ngang. Cả sườn đồi im, chỉ còn tiếng đèn tuýp rè rè. Tôi đặt bút xuống.
Từ phía hồ có một tiếng vọng lên. Trầm, tròn, rất nhỏ, như tiếng gõ vào một cái nồi đồng úp sấp ở xa. Rồi ngân. Cái ngân ấy không giống tiếng gì ở trên mặt đất. Nó đục, nghẹt, như bị bọc trong nhiều lớp chăn bông. Như tiếng vọng từ đáy một cái giếng rất sâu.
Tôi ra mở cửa. Hồ đen. Không một ánh đèn bè cá nào. Ngọn núi bờ bên kia là một vệt đen hơn nền trời. Tiếng ấy lại vang lên lần nữa, cách lần trước chừng mười hơi thở, rồi thôi.
Con chó nhà ông Khiêm dưới dốc không sủa. Tôi nghe rõ nó rên ư ử trong gầm sàn, như con chó bị ai giẫm vào đuôi mà không dám kêu.