☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 2: Ngọn gạo nhô lên

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cuối tháng Tư nước rút nhanh. Mỗi sáng ra sân tôi thấy mép hồ lùi xuống thêm một quãng, để lại một dải đất trơ màu vàng xám, nứt nẻ, lổn nhổn gốc cây chết. Những gốc ấy đen sì, cụt ngọn, bị nước gặm nhẵn như xương. Người bản xuống trồng ngô trên dải đất mới lộ, biết trước thế nào mùa mưa cũng ngập, trồng được vụ nào hay vụ ấy.

Giữa hồ, cách bờ chừng bốn trăm mét, một hôm nhô lên một ngọn cây.

Tôi tưởng là cành củi nổi. Đến hôm sau thì rõ: một ngọn cây chết, cành xòe ra như những ngón tay, không lá. Mỗi ngày nó cao thêm một chút. Đến giữa tháng Năm thì đã thấy cả chạc ba lớn, rồi một mỏm đất tròn quanh gốc, như cái lưng con trâu nằm phục dưới nước.

"Cây gạo đầu bản cũ đấy."

Ông Lường Văn Khiêm nói thế, lúc ngồi ở bậc thang nhà sàn hút thuốc lào. Ông sáu mươi tám tuổi, làm trưởng bản cũ mười lăm năm, đến lúc dời bản thì giao cho con trai. Tiếng phổ thông của ông nói chậm, rõ, quen nói với cán bộ.

"Năm nào nước rút cũng thấy nó. Nó chết rồi mà không đổ. Cây gạo nó dai lắm, cô giáo ạ. Dưới gốc là chỗ bản cúng. Cạnh đấy còn mấy cái nhà, nước lên không dỡ kịp, để lại."

Tôi hỏi nhà ai. Ông Khiêm gõ cái điếu cày vào bậc gỗ, đổ bã thuốc ra, nhìn mãi xuống mặt hồ. Rồi ông nói nhà ai thì đi hết rồi, đi xa, người dưới xuôi không biết đâu.

Thứ Bảy đầu tiên dạy bơi, tôi có mười một đứa. Cô Thơm sang giúp, đứng trên bờ cầm cái sào tre dài. Tôi lội xuống vũng nông dưới chân trường, nước ngang bụng, đục màu chè, ấm ở trên, lạnh buốt ở dưới chân. Tôi buộc can nhựa vào lưng từng đứa bằng dây dù, dạy chúng nằm sấp, đạp chân, úp mặt xuống thổi bong bóng.

Bọn trẻ sợ. Không sợ nước, chúng tắm suối từ bé. Chúng sợ cái chỗ nước không thấy đáy. Mỗi lần tôi bảo bơi ra thêm một sải, mấy đứa lại ngoái nhìn về phía ngọn gạo, rồi nhìn nhau.

Bố mẹ chúng ngồi xổm trên bờ xem. Có ông bố cầm cả con dao quắm, như đề phòng cái gì đó dưới nước bò lên. Anh Quàng Văn Hươn, bố thằng Pâng, nuôi cá lồng ngoài eo, chèo thuyền vào đứng xem một lúc. Anh nói với cô Thơm mấy câu tiếng Thái, cô Thơm dịch lại.

"Anh ấy bảo cô giáo dạy ở đây thì được. Đừng cho chúng nó ra phía gò."

Hôm ấy cả buổi không có chuyện gì. Bọn trẻ về nhà ướt sũng, cười như nắc nẻ, khoe với nhau đứa nào đạp được xa nhất. Thằng Pâng đạp được năm mét, vòng tím ở cổ chân nó đã nhạt thành màu vàng nghệ. Tôi viết vào sổ tên mười một đứa, đánh dấu từng đứa đã nổi được bao lâu.

Tối tôi gọi về nhà. Mẹ nghe máy, kể lể chuyện giá điện, chuyện bà hàng xóm. Tôi khoe dạy bơi. Mẹ ừ ừ. Rồi tôi nghe tiếng bố ở phía sau, hỏi mẹ đứa nào gọi, mẹ đưa máy cho bố.

"Dạy bơi ở đâu?"

Tôi tả cái vũng nông, tả cái ngọn cây giữa hồ. Bố im một lúc lâu, tôi tưởng mất sóng.

"Nước rút tới gốc chưa?"

Tôi hỏi gốc gì. Bố bảo không, bố hỏi linh tinh, rồi dặn tôi đừng cho trẻ con ra chỗ sâu, rồi đưa máy lại cho mẹ. Mẹ hạ giọng, bảo dạo này bố ngủ không ngon, tháng nào cũng than đau dạ dày. Tết vừa rồi tôi mang về hai con cá lăng hồ, mẹ kho, bố không động đũa. Tôi tưởng bố kiêng vì bệnh.

Chủ nhật, tôi nhờ anh Hươn chở ra xem ngọn gạo. Tôi muốn biết chỗ ấy sâu thế nào, để còn dặn học trò. Anh Hươn ngần ngừ, rồi gật. Thuyền anh là thuyền gỗ ván dài, sơn xanh đã tróc, gắn máy nổ đuôi tôm, chạy kêu xành xạch.

Ra giữa hồ thì gió mạnh, mặt nước gợn lăn tăn. Nước ở đây không màu chè nữa, xanh thẫm, nhìn xuống không thấy gì ngoài bóng mình. Anh Hươn tắt máy, để thuyền trôi chầm chậm vào phía gò.

Ngọn gạo lúc lại gần to hơn tôi tưởng. Thân xám trắng, vỏ bong từng mảng, gai trên thân đã mòn thành những cái mụn tròn. Cành dưới thấp có vướng một mảnh lưới đánh cá rách và một túi ni lông xanh. Gò đất quanh gốc rộng chừng một gian nhà, bùn nhão, mọc lún phún cỏ non.

Cách gốc gạo vài sải, dưới mặt nước, tôi thấy một đường thẳng đen sẫm. Rồi một đường nữa, vuông góc với nó. Anh Hươn bảo đấy là nóc nhà sàn. Còn ngập chừng một mét, nước rút thêm vài tuần nữa sẽ lộ.

"Nhà ai hả anh?"

Anh Hươn không trả lời. Anh cầm sào đẩy thuyền ra xa, bảo về thôi cô giáo, gió lên rồi.

Lúc anh cúi xuống giật dây máy, tôi nhìn sang mạn thuyền bên phải, phía gần gò. Ánh nắng trưa chiếu thẳng vào mạn ấy, ván gỗ khô cong, nóng rát tay.

Trên mạn thuyền có một dấu tay ướt.

Bàn tay nhỏ, năm ngón xòe, in rõ cả những đường chỉ tay trên lớp sơn xanh. Như ai vừa từ dưới nước bám lên. Nước còn đọng ở đầu ngón, chưa kịp bay hơi dưới cái nắng ấy. Ở chỗ cổ tay có một vệt cong mảnh, sáng hơn những chỗ khác, như có cái gì tròn và cứng vừa tì vào ván.

Máy nổ. Tôi quay lại nhìn lần nữa thì nắng đã hút dấu tay ấy khô đi, từ ngoài vào trong, chỉ còn cái vệt cong ở cổ tay là khô sau cùng.