☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 12: Lễ dưới lòng hồ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Bố mẹ tôi lên đến Phiêng Lứa vào chiều hôm sau, đi xe khách rồi thuê xe ôm đoạn đường đất. Bố mặc áo mưa quân đội, ống quần bê bết bùn đỏ, kính lão đeo lệch. Tôi đứng ở sân trường nhìn bố leo dốc, mới thấy bố già đi nhiều thế nào chỉ trong mấy tháng.

Bố không ôm tôi. Bố hỏi nhà ông trưởng bản cũ ở đâu.

Tối ấy, trên sàn nhà ông Khiêm, bố ngồi đối diện ông Sướng. Ông mo ngồi giữa. Tôi và mẹ ngồi ở góc, mẹ nắm tay tôi chặt đến đau.

Bố đặt lên sàn hai tờ giấy tôi chụp, đã in ra, và tờ giấy hẹn trong hộp sắt mà ông Sướng đưa. Rồi bố kể. Lần này bố kể hết, kể cả điều chưa nói với tôi qua điện thoại.

Tháng Tám năm 2010, một chiều mưa to, có một người đàn bà người Thái đến trụ sở huyện, ướt từ đầu đến chân, hỏi tìm ông Thành. Hôm ấy bố có ở trong phòng. Người bảo vệ lên báo. Bố nhìn qua cửa kính, thấy chị ấy đứng dưới sân, tay cầm tờ giấy hẹn bọc ni lông. Bố bảo bảo vệ nói ông Thành đi họp.

"Tôi sợ," bố nói. Bố nói tiếng phổ thông, chậm, để ông Sướng nghe hết. "Tôi biết đợt bổ sung không còn. Tôi không biết nói gì với chị ấy. Tôi để chị ấy đứng dưới mưa đến tối thì về."

Đêm ấy nước lên. Ông Khiêm kể tiếp, giọng khàn đặc. Đêm ấy có tiếng chiêng. Cả bản nghe, ngỡ là sấm.

Ông Sướng nghe xong, đứng dậy. Ông bước đến trước mặt bố tôi. Mẹ tôi rụt người lại. Ông Sướng nhìn bố rất lâu, rồi ông cúi xuống, nhặt tờ danh sách viết tay lên, chỉ vào chữ Ỏn.

"Đọc đi."

Bố đọc. "Ón."

"Không phải. Đọc lại."

Bố đọc lại. Vẫn sai. Bố đọc đến lần thứ tư, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, trong khi ông Sướng đứng im, đọc mẫu từng lần. Con Lả ngồi ở cầu thang không nhịn được, nói khẽ một tiếng. Bố quay sang nhìn nó, nhại theo.

"Ỏn."

Ông Sướng gật đầu. Rồi ông ngồi xuống, rót rượu vào hai cái chén, đẩy một chén về phía bố.

Ba hôm sau trời tạnh. Công an huyện xuống cùng hai thợ lặn. Theo chỗ tôi chỉ, họ lặn xuống đám rễ gạo. Gần trưa họ đưa lên tấm chăn thứ hai. Xương người lớn, mảnh vải áo cóm trắng, mấy cái cúc bạc hình con bướm, một đoạn dây mây buộc vào mấy cây nứa đã mục, và ở đầu bè, một bó đuốc tre cháy dở. Một cái bè. Người đàn bà ấy đã đi bộ về từ huyện trong mưa, kết bè chèo ra gò giữa đêm, theo tiếng chiêng con gọi, và không đến được.

Trong bàn tay xương của chị, khép chặt giữa những ngón tay, có chiếc vòng bạc thứ hai.

Ông Sướng bảo lúc chị đi lên huyện, con bé tháo một chiếc vòng đưa mẹ cầm theo, cho may mắn. Người Thái tin đôi vòng bà ngoại cho thì phải về lại với nhau.

Ông mo bảo con bé ở dưới ấy một mình sáu năm, không ai nghe tiếng chiêng, không ai đến. Nó kéo chân trẻ con không phải để giữ lại. Nó kéo để người lớn phải ra gò tìm. Nó đợi một người biết đọc đúng tên nhà nó.

Lễ làm trên mặt hồ, trên những chiếc thuyền buộc vào nhau thành một cái bè lớn, ngay trên mỏm gò đã chìm. Cả bản ra, thuyền nào cũng chật. Ông mo ngồi giữa, trước mâm lễ có hai bộ áo cóm mới, một xanh, một trắng. Cái chiêng nứt treo trên một cây sào tre.

Ông mo khấn rất lâu, gọi từng tên. Tòng Văn Pánh. Lò Thị Ỏn. Tòng Thị Ín. Gọi đúng từng dấu. Đến đoạn người nhà phải thưa, ông Sướng thưa. Rồi ông mo nhìn bố tôi.

Bố quỳ trên ván thuyền, chắp tay. Bố gọi tên hai mẹ con, đúng dấu. Rồi bố nói, bằng tiếng phổ thông, những câu tôi không nghe rõ vì gió.

Ông mo cầm dùi đánh chiêng. Tiếng chiêng vẫn rè, vẫn vỡ. Nhưng nó vang ra rất xa, qua mặt hồ, đập vào núi bên kia rồi dội về. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng chiêng ấy ở trên mặt nước, giữa ban ngày, và không thấy lạnh.

Hai mẹ con được chôn trên sườn đồi phía sau bản, chỗ nhìn thẳng ra gò gạo, theo lễ người Thái, mộ có mái che nhỏ, cột tre cắm cờ trắng. Một chiếc vòng bạc chôn theo Ín.

Chiếc còn lại, ông Sướng đưa cho tôi, sau khi đã hỏi ông mo.

"Một chiếc đi với nó. Một chiếc ở lại với người đã hứa. Ông mo bảo thế."

Bố tôi viết một lá đơn tự khai, nộp lên huyện. Bố đã nghỉ hưu, việc cũ đã quá lâu, huyện họp, ghi nhận, rồi xếp vào hồ sơ. Bố bỏ rượu. Bố bỏ tiền đúc lại cái chiêng mới cho bản, nhưng ông mo không treo. Ông giữ cái chiêng nứt ở nhà văn hoá. Tết năm ấy Phiêng Lứa làm lễ cúng bản đầu tiên kể từ ngày nước lên.

Cái dòng bút đỏ trong sổ chủ nhiệm, thầy hiệu trưởng nhận là chữ thầy. Thầy chép theo danh sách các hộ đã chuyển mà xã gửi xuống năm ấy. Thầy cầm sổ, đọc đi đọc lại, rồi ký giấy cho tôi mở lại lớp bơi.

Tháng Năm năm sau, nước rút, ngọn gạo lại nhô lên giữa hồ. Lớp bơi có hai mươi hai đứa. Bố tôi lên ở cả tháng, chèo thuyền canh ngoài cây sào đỏ. Bố mặc áo phao, ngồi trên thuyền suốt buổi, mắt không rời những cái đầu đen dưới nước.

Tôi vẫn dạy ở Phiêng Lứa. Năm nay là năm thứ tám. Chiếc vòng bạc tôi đeo ở cổ tay trái, cạnh vòng chỉ trắng ông mo buộc mỗi đầu mùa. Vòng to quá, tôi phải buộc thêm một sợi chỉ cho khỏi tuột.

Những lúc đứng dưới nước dạy bơi, có khi vòng khẽ thít lại trên cổ tay tôi. Chỉ một chút, như có bàn tay nhỏ vừa nắm vào rồi buông. Mỗi lần như thế, tôi ngẩng lên nhìn ra phía cây sào đỏ. Lần nào cũng có một đứa vừa bơi quá.