Chương 1: Cuốc xe năm tầng
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Tôi tên Đoàn Thị Bích Tiên, nhưng dân trong hẻm từ Quận 4 qua Quận 8 không ai gọi tên đó. Người ta kêu tôi con Ớt. Hồi nhỏ tôi ốm nhom, đen nhẻm, ăn nói thì cay. Lớn lên tôi vẫn đen, vẫn ốm, chỉ có cái miệng là cay hơn.
Năm 2019 tôi hai mươi lăm tuổi, chạy xe ôm công nghệ được gần bốn năm. Trước đó tôi học kế toán ở một trường đại học bên Quận 7, tới giữa năm hai thì nghỉ. Ba tôi mất vì tai nạn lao động, má tôi bán chè ở đầu chợ Xóm Củi, chân yếu. Thằng em tôi tên Tùng, nhỏ hơn tôi sáu tuổi, học giỏi, mê máy tính. Nhà chỉ đủ tiền cho một đứa đi học, tôi chọn đứa đó là nó.
Tôi không tiếc. Chạy xe cũng có cái sướng. Tôi thuộc từng con hẻm, từng cái ổ gà, từng chỗ ngập dưới chân cầu. Tôi biết trạm xăng nào bán đủ lít, quán cơm nào cho thêm canh, hẻm nào thông qua đường lớn mà ứng dụng không chịu vẽ.
Chiều thứ Bảy đầu tháng Sáu, trời Sài Gòn vần vũ từ trưa. Tôi đang ngồi uống ly trà đá ở đầu đường Tôn Đản thì điện thoại báo cuốc. Điểm đón cách đó hai trăm thước, trong một con hẻm nhỏ. Điểm đến là một nhà hàng tiệc cưới bên Quận 7, tên Hoa Sen Vàng. Phần ghi chú khách viết một câu rất lạ.
"Chở người kèm hàng dễ vỡ. Xin tài xế chạy cẩn thận. Sẽ bồi dưỡng thêm."
Tôi nhận. Hàng dễ vỡ thì tôi chở hoài, nào là bình bông, nào là bể cá, có lần còn chở một cái gương soi cao hơn người. Tôi chạy vô hẻm, dừng trước một tiệm bánh nhỏ xíu, bảng hiệu sơn tay: Bánh ngọt Thành Nhân. Cửa kéo mở một nửa. Trong tiệm thơm mùi bơ với mùi lá dứa.
Một người đàn ông bước ra. Cao, gầy, tóc cắt ngắn gọn gàng, đeo tạp dề trắng không dính một vết bột. Anh nhìn tôi, nhìn chiếc xe số của tôi, rồi nhìn trời. Mặt anh tái đi thấy rõ.
"Cô là tài xế hả?"
"Dạ, tui nè. Hàng đâu anh?"
Anh không trả lời, quay vô trong. Lát sau anh bê ra cái thùng giấy cứng đầu tiên, to bằng cái nồi cơm điện. Rồi cái thứ hai, nhỏ hơn chút. Rồi cái thứ ba. Tới cái thứ năm thì tôi hiểu, và tôi muốn hủy cuốc.
"Bánh cưới hả anh?"
"Năm tầng. Em gái tôi cưới. Sáu giờ rước dâu vô nhà hàng, bảy giờ khai tiệc. Bánh phải ráp xong trước sáu giờ rưỡi."
Tôi nhìn đồng hồ điện thoại. Ba giờ kém mười lăm. Còn chừng ba tiếng rưỡi. Bình thường từ đây qua Hoa Sen Vàng mất hai chục phút. Nhưng bình thường thì không có năm thùng bánh, không có cơn mưa đang lù lù trên đầu.
"Sao anh không đi xe hơi? Xe bốn bánh chở cái này mới phải chớ."
"Tôi thuê xe tải nhỏ rồi. Người ta báo hư hộp số lúc hai giờ. Gọi taxi thì không chiếc nào chịu chở bánh. Cô là người thứ tư nhận cuốc. Ba người kia tới nơi thấy bánh là bỏ đi."
Anh nói một hơi, không lên không xuống, như đọc bảng kê. Mà tay anh thì run. Tôi thấy hai bàn tay anh, sạch sẽ, móng cắt sát, đang bấu vô mép tạp dề.
Tôi thở dài. Má tôi nói tôi có cái tật thấy người ta khổ là không bỏ đi được. Má nói đúng.
"Có dây ràng không anh? Dây thun, dây dù, gì cũng được."
Anh chạy vô, đem ra một cuộn dây dù màu xanh, một tấm ni lông lớn, với hai miếng xốp. Tôi xếp ba thùng lớn lên yên sau, chèn xốp ở giữa, ràng chéo hai vòng. Hai thùng nhỏ nhất anh ôm trong lòng. Anh ngồi sau tôi, ngồi sát sau lưng ba thùng bánh, người cứng như khúc cây.
"Cô ơi, tầng dưới cùng nặng bốn ký hai trăm gam. Tầng thứ hai ba ký tám trăm năm chục. Cô nghiêng xe quá mười lăm độ là lớp kem bơ bị xô."
"Anh nói gam tui hổng hiểu. Anh nói chừng chừng thôi. Chừng nào nó sắp đổ thì la lên."
Anh im. Tôi đề máy, chạy ra đầu hẻm.
Mưa rớt hột đầu tiên khi tôi vừa quẹo ra đường Hoàng Diệu. Hột thứ hai, thứ ba, rồi cả bầu trời đổ ập xuống như ai lật thau nước. Tôi tấp vô mái hiên một tiệm thuốc tây, rút tấm ni lông trùm kín mấy thùng bánh. Người anh ướt sũng trong vòng mười giây. Anh không chịu che cho mình, chỉ lo kéo mép ni lông cho kín.
"Anh mặc áo mưa vô. Tui có cái dư trong cốp."
"Không sao. Bánh quan trọng hơn."
"Anh bệnh ra đó ai ráp bánh?"
Anh nhìn tôi một cái, lần đầu tiên nhìn thẳng. Rồi anh lấy áo mưa mặc vô. Lúc đó tôi mới biết anh tên Nhân, hai mươi chín tuổi, làm bánh từ năm mười bảy, chủ cái tiệm nhỏ xíu kia được sáu năm. Anh nói tên mình cũng bằng cái giọng đọc bảng kê.
Chúng tôi chạy tiếp. Nước dâng nhanh hơn tôi tưởng. Tới đoạn đường Khánh Hội, nước đã ngập lút mắt cá. Tới chân cầu Kênh Tẻ, nước lên tới bàn đạp. Xe cộ chen nhau, còi inh ỏi, có chiếc xe buýt chạy qua đánh một lượn sóng vào người tôi.
Tôi nghe sau lưng anh hít mạnh một hơi.
"Cô ơi, thùng thứ ba lệch."
"Lệch nhiêu?"
"Chừng... chừng hai phân."
Tôi bật cười, mặc kệ mưa tát vô mặt. Chưa quen nhau nổi một tiếng mà anh đã nói được chữ chừng.
Rồi tiếng cười của tôi tắt ngang. Chiếc xe dưới người tôi khựng lại, giật hai cái, rồi im. Tôi đạp đề. Không nổ. Tôi đạp cần khởi động. Một lần, hai lần, năm lần. Máy chỉ ho khục khặc rồi chết hẳn, giữa dòng nước đang dâng ngang ống bô.
Đồng hồ trên điện thoại chỉ ba giờ hai mươi lăm. Trước mặt là con dốc cầu, sau lưng là năm tầng bánh cưới, và trời thì chưa có dấu hiệu gì là sẽ tạnh.