Chương 2: Nước ngập chân cầu
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
"Thôi rồi."
Anh Nhân nói đúng hai chữ đó, giọng khô khốc. Tôi quay lại thì thấy anh đang nhìn mấy thùng bánh, mặt trắng bệch như bột mì. Nước mưa chảy ròng ròng trên tấm ni lông. Xe cộ phía sau bóp còi inh ỏi, như thể tôi muốn đậu ở đây lắm vậy.
"Chưa rồi đâu anh. Anh xuống đi, ôm hai thùng nhỏ cho chắc. Tui dắt."
Tôi gạt chân chống, nhảy xuống. Nước lạnh ngắt lút tới bắp chân. Tôi nắm ghi đông, nghiêng người đẩy chiếc xe ngược vô lề, né cái dốc cầu. Anh lội theo sau, hai tay ôm hai thùng bánh sát ngực như ôm con nhỏ. Mỗi bước anh đi chậm, dò dẫm, cứ sợ hụt chân xuống ổ gà.
Tôi biết chỗ này. Dưới chân cầu Kênh Tẻ, phía bên Quận 4, có một con hẻm nhỏ chạy dọc bờ kênh, cao hơn mặt đường một gang tay. Ở đầu hẻm, nếu trời còn thương, là tiệm sửa xe của chú Tư Râu.
Trời còn thương. Cửa tiệm chú Tư mở hé, bóng đèn tuýp vàng vọt hắt ra ngoài mưa. Chú đang ngồi chồm hổm vá ruột xe cho một thằng nhỏ. Thấy tôi, chú nhướng mày.
"Con Ớt đó hả? Mày chở cái giống gì mà như dọn nhà vậy?"
"Bánh cưới chú ơi. Xe con chết máy ngay chân cầu. Chú coi giùm con, lẹ lẹ giùm con."
Chú Tư đứng dậy, chùi tay vô quần, ngó cái bô xe một cái rồi lắc đầu.
"Vô nước bugi rồi, còn ướt luôn cái lọc gió. Hong khô cũng mất nửa tiếng."
Nửa tiếng. Tôi nhìn anh Nhân. Anh đứng dưới mái hiên, ướt như chuột lột, môi mấp máy như đang tính nhẩm từng phút.
"Chú Tư, cho con mượn chiếc Dream của chú."
"Mượn rồi xe mày bỏ đây cho tao hả?"
"Dạ. Tối con quay lại lấy, con trả tiền sửa luôn. Con thề có ông Địa."
Chú Tư nhìn tôi, nhìn anh Nhân, nhìn mấy thùng bánh. Rồi chú quăng cho tôi chùm chìa khóa.
"Bánh cưới thì phải tới. Tao cưới vợ hồi đó không có bánh, bả giận tao hai chục năm."
Chiếc Dream của chú Tư cũ hơn xe tôi nhiều, nhưng gầm cao. Gầm cao là thứ duy nhất tôi cần lúc đó. Hai đứa tháo dây, chuyển ba thùng bánh qua, ràng lại. Tay anh Nhân lạnh ngắt khi chạm vô tay tôi. Anh rụt lại liền, như đụng phải nồi nước sôi.
"Xin lỗi."
"Xin lỗi cái gì. Ngồi lên đi anh."
Chúng tôi chạy tiếp, không qua cầu Kênh Tẻ nữa. Tôi vòng theo hẻm bờ kênh, quẹo qua một khu chợ chiều, chui ra đường Nguyễn Văn Linh từ một ngả mà ứng dụng chưa bao giờ biết tới.
"Cô chạy đường này hoài hả?"
"Tui chạy đường nào cũng hoài. Ở đây hẻm nào thông hẻm nào, tui biết hết. Ứng dụng nó chỉ đường người ta, còn tui đi đường của tui."
"Vậy sao lúc nãy cô không đi đường này luôn?"
"Tại tui tưởng trời không mưa lớn."
Anh im một hồi. Rồi anh nói, rất nhỏ, gần như lẩm bẩm.
"Cô làm việc cũng chừng chừng."
Tôi nghe mà muốn quay lại cốc đầu anh. Nhưng trước mặt là một khúc quanh, và chính ở khúc quanh đó, một chiếc xe máy từ trong hẻm phóng ra, không nhìn, không bóp còi.
Tôi bóp thắng. Chiếc Dream khựng mạnh. Tôi cảm thấy cả khối ba thùng bánh sau lưng xô về phía trước, đè lên lưng anh Nhân. Tôi nghe tiếng anh la lên. Tôi nghe tiếng dây dù căng ra, rồi một tiếng phựt rất khẽ.
Thùng trên cùng trượt khỏi vòng dây.
Tôi không kịp nghĩ. Tôi buông tay phải khỏi ghi đông, ngoái người ra sau, chặn cái thùng bằng cả cánh tay với đầu gối. Góc thùng cứng đập vô khuỷu tay tôi đau điếng. Xe chao qua một bên. Anh Nhân chồm tới, một tay vẫn ôm hai thùng nhỏ, một tay đỡ đáy cái thùng đang trượt.
Ba giây. Có khi chỉ hai giây. Rồi mọi thứ đứng yên.
Thằng chạy xe máy đã mất hút. Hai đứa ngồi đó, thở hổn hển. Người đi đường ngoái lại nhìn như nhìn xiếc.
"Bánh có sao không anh?"
Anh hé nắp thùng một chút, nhìn vô, rồi đóng lại thật nhẹ.
"Tầng ba móp một góc kem. Sửa được. Tay cô có sao không?"
"Hổng sao. Đi tiếp."
Tôi nói vậy, nhưng khuỷu tay tôi đã bầm tím một mảng, mai thức dậy còn sưng to như trái chanh.
Năm giờ mười lăm, chúng tôi tới nhà hàng Hoa Sen Vàng. Trời ngớt mưa. Đèn trong sảnh đã bật, mấy cô phục vụ đang trải khăn bàn. Một cô gái mặc áo dài trắng chạy ra, tóc còn quấn lô, la lên một tiếng.
"Anh Hai! Em tưởng anh chết luôn rồi chớ!"
"Chưa. Còn bốn mươi phút ráp bánh. Ngân vô trong đi, đừng làm ướt áo."
Đó là Ngân, em gái anh, cô dâu. Cô nhìn tôi, nhìn bộ dạng tôi ướt nhẹp, nhìn cánh tay tôi, rồi há miệng không nói được câu nào.
Tôi phụ anh khiêng bánh vô một căn phòng nhỏ sau sân khấu. Tôi tính đi liền, nhưng không hiểu sao tôi lại đứng đó coi anh làm. Anh rửa tay, lau khô từng ngón. Anh mở thùng, nhấc từng tầng bánh ra như nhấc một đứa trẻ đang ngủ. Anh lấy cây bay nhỏ, vét lại góc kem bị móp. Mỗi động tác chính xác, không dư không thiếu.
Tay anh hết run rồi. Tôi để ý chỗ đó.
Sáu giờ hai mươi, chiếc bánh năm tầng đứng sừng sững trên xe đẩy, trắng tinh, viền hoa kem bơ màu ngà, trên chóp có hai con chim bằng đường. Anh lùi lại một bước, nhìn nó. Rồi anh quay qua tôi.
"Cô tên gì?"
"Tiên. Mà người ta kêu tui con Ớt."
Anh gật đầu, như ghi nhớ một con số. Anh móc ví, đếm tiền, đưa tôi. Nhiều hơn giá cuốc gấp ba lần. Tôi chưa kịp cảm ơn thì nhạc trong sảnh nổi lên, ai đó gọi tên anh. Anh đi vội, quên luôn chào.
Tôi ra về, cầm tiền trong tay, đứng một lúc dưới mái hiên. Lúc đó tôi mới thấy trên yên xe chú Tư có một cuốn sổ bìa nâu, gáy sờn, ướt một góc. Chắc rớt ra từ túi tạp dề của anh lúc thắng gấp.