Chương 1: Nghề của ôn ngoại
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Năm 1999 tôi mười sáu tuổi, ở với ôn ngoại trong một cái nhà tranh vách đất ven sông Bồ, thuộc huyện Quảng Điền. Mạ tôi vô Sài Gòn làm thuê từ hồi tôi lên bảy, mỗi Tết gửi về một lá thư và ít tiền. Ôn nuôi tôi bằng một nghề mà người trong làng gọi là gọi hồn, còn ôn gọi là nghề nói thay.
Ôn tên Cửu. Người ta kêu ôn là thầy Cửu, kêu tôi là thằng Thiện cháu thầy. Ôn không có bàn thờ tổ, không có sách bùa, chỉ có một cái thau đồng cũ, một cái nón lá đã sờn vành, một cái áo dài the đen và một cuộn cước câu cá loại nhỏ nhất.
Lần đầu ôn cho tôi theo làm, tôi mười ba tuổi. Ôn nói thẳng với tôi trên đường đi, không vòng vo:
"Hồn mô mà về được, con. Người sống nhớ người chết, mình nói cho họ nghe một lần cho đã. Rứa thôi."
Tôi nhớ tôi đã thất vọng. Rồi tôi quen.
* * *
Cách ôn làm như ri. Có nhà mời, ôn nhận lời, hẹn ba bữa sau. Ba bữa đó tôi đạp xe đến xóm người chết, chở theo cái bao tải với cái cân đòn, rao mua ve chai, mua lông vịt, mua đồ đồng nhôm. Trẻ con bu lại bán vỏ chai. Đàn bà ngồi đầu ngõ lựa nồi bể ra bán. Tôi cân chậm, trả giá lâu, và hỏi.
Người chết thích ăn chi, sợ chi, kêu mạ bằng tiếng chi. Đêm cuối nằm ở mô. Ai thương, ai giận. Tôi nhớ hết, về kể lại cho ôn. Ôn ngồi bên bếp, nhắm mắt nghe, rồi tập nói bằng giọng người đó cho đến khuya.
Đến bữa làm lễ, ôn đặt thau đồng giữa nhà, đổ đầy nước múc ở chỗ người chết. Ôn thả cái nón lá ngửa lên mặt nước, cắm một cây nến nhỏ giữa lòng nón. Tôi ngồi khuất sau tấm liếp tre hay bức bình phong, trong tay là đầu sợi cước. Đầu kia buộc vào vành nón, luồn dưới chiếu, vắt qua miệng thau.
Ôn khấn đến đoạn kêu tên, tôi kéo nhẹ. Cái nón xoay một vòng chậm trên mặt nước, ánh nến quét qua mặt người nhà. Ai cũng thấy. Rồi ôn gục đầu xuống, ngẩng lên, nói bằng giọng khác.
Ba năm, chưa ai phát hiện. Ôn không lấy tiền của nhà nghèo. Nhà khá thì ôn lấy vừa phải. Ôn nói người ta trả tiền là trả cho cái yên lòng.
* * *
Trận lụt đầu tháng Mười Một năm đó, người Huế bây giờ còn gọi là lụt thế kỷ. Nước lên trong một đêm. Nhà ôn ngập tới mái, hai ông cháu ngồi trên nóc nhà thờ họ bên cạnh suốt hai ngày, ăn mì gói người ta ném xuống từ ghe. Khi nước rút, nhà còn lại bốn cây cột và cái khung mái. Thau đồng mắc trong bụi tre, tôi lội ra gỡ về được. Cái nón thì ôn phải mua cái mới.
Trường tôi ngập bùn tới bậu cửa sổ, nghỉ học vô hạn. Làng nào cũng có người chết. Từ giữa tháng Mười Một, nhà mời ôn nhiều hơn mọi năm cộng lại.
Ôn nhận ít. Ôn nói chết lụt thì người nhà còn đau quá, chưa nghe được.
Một buổi chiều giữa tháng Mười Hai, khi tôi đang trét lại vách đất, có một người đàn ông chống đò vô sát bờ tre sau nhà. Đò máy, loại đò dọc chở khách lên chợ huyện, thân sơn xanh đã tróc. Người đó chừng bốn mươi, vai rộng, mặc áo bộ đội cũ xắn tay. Ông bước lên bờ, đứng ngoài ngõ chứ không vô, hỏi:
"Thầy Cửu có nhà không con? Thầy Cửu gọi hồn đó."
Ông nói lặp lại, giọng khàn, như người không ngủ nhiều bữa.
Đó là chú Lợi đò, ở xóm Cồn Đình bên kia sông. Con gái chú tên Mận, chín tuổi, chết trong đêm nước lên. Xác chưa tìm được. Vợ chú từ đó không ăn, đêm nào cũng ra bến ngồi.
"Tui muốn ôn làm cho con tui một buổi. Cho mạ hắn nghe hắn nói một câu. Rứa thôi."
Ôn ngồi trên cái chõng tre ngoài hiên, rít thuốc, hỏi chú muốn nghe câu chi.
Chú Lợi nhìn xuống đất lâu. Tôi tưởng chú khóc. Chú không khóc. Chú nói chậm, như đã thuộc trước:
"Ôn nói giùm tui. Con ở dưới nớ yên rồi. Đừng ai tìm con nữa."
* * *
Ôn nhận lời. Ôn hẹn bốn bữa sau, vì xóm Cồn Đình xa, tôi cần thêm một bữa để hỏi.
Tôi tiễn chú Lợi ra bờ tre. Nước sông đã trong lại phần nào nhưng còn đục màu đất đỏ, trôi lềnh bềnh lá chuối, rơm, xác gà. Đò chú neo sát mép nước. Lúc chú bước xuống, mạn đò nghiêng về phía tôi, và tôi thấy.
Phía ngoài mạn trái, ngay dưới mép ván, chỗ thường ngập nước khi đò chở nặng, có những vệt cào. Năm vệt nhỏ, gần như song song, sâu vào lớp sơn xanh tới tận gỗ trắng. Ngay bên cạnh là năm vệt nữa. Rồi năm vệt nữa, lệch xuống thấp hơn một chút, như cái gì đã trượt dần. Cả một khúc mạn dài chừng một sải tay toàn những vệt như rứa.
Vệt mới. Gỗ chỗ đó còn trắng, chưa kịp thâm.
Tôi nhìn lâu quá. Chú Lợi thấy. Chú cúi xuống, kéo tấm bao bố trên khoang đò phủ lên mạn trái, vuốt cho thẳng, rồi mới giật máy.
Đò chạy xa rồi tôi mới để ý tay mình đang nắm chặt sợi cước trong túi quần, nắm tới mức nó cứa vào lòng ngón.
Tối đó ôn hỏi tôi thấy chi mà mặt mày rứa. Tôi kể. Ôn rít một hơi thuốc dài, nói lụt thì đò đụng đủ thứ, cành tre, mái tôn, đinh. Rồi ôn dặn mai tôi đi Cồn Đình thì hỏi kỹ chuyện đêm hôm đó, con bé ngồi ở mô trên đò, rớt xuống lúc mô.
Tôi nằm trên tấm phản kê tạm dưới khung mái mới lợp được một nửa. Gió sông thổi vô, mang mùi bùn non đặc quánh mà cả tháng nay làng tôi ngửi đã quen.
Gần sáng, tôi nghe ngoài bờ tre có tiếng nước vỗ vào cái gì như mạn ván. Không có đò nào neo ở đó cả.