Chương 3: Một ký gạo buổi chiều
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Không có ai trong góc tiệm. Chồng bao bố lún xuống một chỗ ở giữa, lõm như dấu ngồi, rồi từ từ phồng lại. Tôi nói với mình là bao bố xếp lâu thì xẹp, chuột chạy bên dưới. Tôi không lại gần coi có chuột không.
Hôm đó tôi gom mấy hạt gạo lại, bỏ vô một bịch ni lông nhỏ, cột lại, bỏ túi quần. Tôi cũng không biết vì sao mình làm vậy.
* * *
Chiều đó trời mưa. Mưa Cần Thơ tháng Sáu không báo trước, đang nắng đổ xuống một cái, nước dưới rạch dâng lên lềnh bềnh lục bình. Tôi ngồi trong tiệm chờ tạnh, nghe mưa gõ trên mái tôn tầng lầu, nghe nước từ ống xối chảy ồ ồ ra con hẻm bên hông. Không có khách nào hẹn.
Tôi lên gác lửng lần đầu. Cầu thang gỗ dốc, mỗi bậc kêu một tiếng khác nhau. Gác thấp, đứng thẳng thì đụng đầu, chất đầy thùng các tông, mấy cái quạt máy hư, một cái tủ gỗ có ổ khoá đồng. Tôi không mở tủ. Tôi ngồi ở mép gác, chỗ có thể nhìn xuống trọn tầng trệt qua lan can gỗ.
Từ trên đó nhìn xuống, cái cân nằm ngay giữa, bốn viên gạch xám dưới chân cân thành một ô vuông sẫm giữa nền gạch bông. Ô vuông dài hơn mặt cân nhiều. Từ dưới đất nhìn ngang thì không thấy. Từ trên cao thì thấy rõ nó không vuông, mà dài, dài cỡ một người nằm, và cái cân đặt ở một đầu, đầu phía trong.
Tôi ngồi đó tới khi mưa tạnh, không đứng dậy được.
* * *
Tối đó tôi về ăn cơm với má. Má kho cá linh với bông điên điển, mùa nước sớm năm đó cá linh về ít, má mua được một chén là mừng. Tôi ăn không ngon. Má hỏi chuyện căn nhà, tôi kể chuyện ông Bảy sửa cân, kể chuyện cái cân sáng nào cũng chỉ một ký. Tôi không kể chuyện gạo, không kể ô gạch.
Má gắp cá bỏ chén tôi. Má nói, nghe tới cái cân lệch một ký, má nhớ ba mày.
Má ít khi nhắc ba. Hồi nhỏ tôi hỏi, má nói ba đi làm xa, rồi nói ba đi Campuchia buôn, rồi tới năm tôi mười tuổi thì má nói thẳng ba bỏ má con mình, đi theo người khác. Trong nhà không có tấm ảnh nào của ba. Tôi chỉ nhớ một cái lưng áo màu cháo lòng, một cái khăn rằn quấn cổ, mùi mồ hôi với mùi cám.
"Hồi đó ba mày đi bốc vác," má nói. "Chiều nào về cũng xách một ký gạo, gói giấy xi măng, chủ trả lương một phần bằng gạo. Hỏi làm đâu thì nói ở chợ. Chợ nào... ổng hổng nói. Đạp xe từ dưới mình lên, gà chưa gáy đã đi."
Tôi hỏi ba đi năm nào. Má nói năm chín bốn, tháng Bảy, đúng mùa nước. Một buổi chiều không thấy về. Sáng sau không thấy.
Ba ngày sau có người tới nhà nói ổng ôm tiền của chủ trốn rồi, chủ báo công an. Má không tin. Má chờ. Má nói má chờ tới năm thứ ba thì nghe người ta đồn thấy ổng bên Châu Đốc với một người đàn bà, má mới thôi chờ.
"Mà má vẫn nấu dư một lon gạo," má nói, như nói chuyện người khác. "Nấu quen tay, cả chục năm mới bỏ được."
Tôi hỏi má có biết chủ ba tên gì không. Má lắc đầu. Má đứng dậy dọn chén, quay lưng về phía tôi.
"Thôi, chuyện cũ."
Tôi để ý má không hỏi tiệm gạo ở đường nào, nằm sát rạch hay không, ai bán. Má hỏi mọi thứ về mấy căn nhà tôi trông, giá bao nhiêu, mặt tiền mấy thước. Riêng căn này má không hỏi gì.
* * *
Đêm đó tôi nghĩ ra cách. Tôi sẽ để điện thoại lại tiệm, quay suốt đêm.
Chín giờ tối tôi chạy xe trở lên Cái Khế. Con đường dọc rạch đã vắng, mấy quán nhậu đầu hẻm còn sáng đèn, tiếng hát karaoke vọng từ đâu đó bên kia rạch. Tôi mở cửa, vặn núm cân về số không. Tôi dựng điện thoại trên kệ gỗ, tựa vô thùng gạo Nàng Thơm, ống kính hướng thẳng vô mặt đồng hồ, cắm sạc dự phòng. Tôi để bóng đèn nhỏ ở cầu thang sáng.
Tôi khoá cửa, đứng ngoài một lúc. Qua khe cửa sắt, tôi thấy ánh đèn vàng hắt lên mặt kính cân. Rồi tôi về.
* * *
Năm giờ sáng tôi đã có mặt. Điện thoại còn ba mươi phần trăm pin. Kim cân chỉ một ký. Tôi ngồi luôn trên ghế đẩu, tua đoạn phim.
Gần hết đoạn phim không có gì. Mặt đồng hồ, cây kim, ánh đèn vàng. Tôi tua nhanh, thấy bóng đèn thỉnh thoảng chớp vì điện yếu, thấy một con thằn lằn bò ngang mặt kính lúc nửa đêm.
Tới đoạn gần sáng, tiếng ếch nhái dưới rạch trong phim tắt ngang, như ai bịt micrô. Con thằn lằn đang nằm trên kệ quẫy đuôi chạy mất. Cây kim bắt đầu nhích.
Không nhảy lên như khi đặt đồ. Nó nhích chậm, rất chậm, như có ai đang đặt một vật lên mặt cân bằng hai tay cẩn thận, sợ làm đổ. Mất gần một phút kim mới tới vạch một. Rồi đứng đó.
Trong phim không có gì đặt lên mặt cân. Không có bóng ai. Mặt bàn sắt trống trơn dưới ánh đèn vàng.
Nhưng âm thanh thì có. Tôi vặn hết cỡ. Ngay lúc kim chạm vạch một, có tiếng một cái bao nặng rớt xuống nền gạch, tiếng "bịch" đục và mềm của bao gạo. Rồi một tiếng thở ra dài, khàn, tiếng của người vừa vác xong một thứ gì nặng lắm.
Rồi một giọng đàn ông, nhỏ, gần sát micrô, như người đứng ngay sau điện thoại mà nói:
"Đủ chưa chủ?"