Chương 1: Đêm đầu về nhà chồng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi tên Thoa, quê ở một xóm ruộng thuộc huyện Phong Điền. Năm 1999 tôi hai mươi hai tuổi, lấy anh Khải ở làng Hương Hồ, bên bờ sông Hương, cách nhà mạ tôi chừng ba chục cây số. Đám cưới làm sau Tết, ngày mười hai tháng Giêng, trời mưa phùn. Nhà trai thuê một chiếc xe đò cũ lên rước, hai mâm trầu cau, một cặp đèn cầy đỏ. Mạ tôi khóc từ đầu ngõ ra tới cây cầu tre.
Anh Khải làm thợ mộc, theo cha học nghề dựng nhà rường từ năm mười bốn tuổi. Cha anh mất sớm, nhà còn mạ chồng tôi và một đứa em gái đang học trường sư phạm dưới thành phố. Anh ít nói, tay chai cứng như vỏ cây, lúc nào trên tóc cũng vương mùn cưa. Người mai mối nói với mạ tôi một câu tôi nhớ tới giờ: thằng nớ hiền, cả đời chưa to tiếng với con gà.
Phòng của hai vợ chồng là cái chái phía đông, vách ván, có một cửa sổ nhỏ nhìn ra vườn chuối. Cái giường gỗ mít do chính tay anh đóng, chân giường khắc hoa sen, mặt giường còn thơm mùi dầu rái. Tối hôm đó trời lạnh, cái bóng đèn tròn treo giữa phòng vàng vọt, chớp chớp mỗi lần trạm điện xã nhảy.
Anh ngồi mép giường, hai tay đặt trên đầu gối, lúng túng như đứa học trò bị gọi lên bảng. Một hồi anh nói:
"Em đi đường xa mệt rồi. Ngủ đi. Mai mốt còn dài."
Rồi anh kéo cái mền bông đắp cho tôi, nằm quay mặt vô vách. Tôi nằm nghe mưa rơi trên mái ngói âm dương, nghe tiếng anh thở chậm dần, và thương anh từ đêm đó.
Tôi ngủ. Và tôi mơ.
Tôi đứng trong một căn nhà rường ba gian. Cột nhà đen bóng, to cỡ một vòng tay, xà kèo chạm hoa lá. Gian giữa có cái bàn thờ thấp, lư hương đồng, khói trầm bay lên thành một sợi thẳng. Tôi biết đó là trầm chứ không phải nhang, vì mùi ngọt và đắng, đặc tới mức ngậm được trong miệng.
Cửa nhà mở ra một cái bến nước. Bến xây bằng mấy bậc đá, cạnh đó có một cây bàng già, lá đỏ như lửa, một nhánh lớn gãy gục xuống mặt nước. Nước rộng lắm, phẳng lì, màu chì, không thấy bờ bên kia. Gió thổi vô nhà mang mùi tanh của rong, mùi bùn.
Giữa gian nhà có một đứa nhỏ chừng ba tuổi, cởi trần, mặc quần đùi vải đen. Tay nó cầm một cái chong chóng giấy màu đỏ, cắm trên một que tre. Nó chạy vòng quanh cây cột cái, chạy hoài, chạy hoài, miệng cười khanh khách. Cái chong chóng quay tít, kêu xè xè.
Rồi ở cửa, có một người đàn ông đứng. Gầy, cao, áo cánh nâu ướt dán vô người, quần xắn tới gối. Tôi không thấy rõ mặt, vì ánh sáng ở sau lưng anh ta. Anh ta không bước vô. Anh ta đứng đó gọi vô trong, giọng khàn mà dịu:
"Mạ thằng Tí ơi."
Tôi không tên Tí, không có con nào tên Tí. Vậy mà tôi biết người ta đang gọi tôi. Tôi biết rõ như biết tay mình. Trong mơ tôi quay lại, định trả lời, thì tôi tỉnh.
Bóng đèn đã tắt. Ngoài vườn gà chưa gáy. Anh Khải ngủ say, một tay gác lên trán. Tôi nằm im, tim đập thình thịch, và tôi ngửi thấy mùi trầm. Không phải trong mơ nữa. Ngay trên tóc tôi.
Tôi đưa tay vuốt tóc. Đầu ngón tay nhớp nháp. Tôi rón rén xuống giường, mò cái đèn pin trên bàn, soi vào lòng bàn tay. Một vệt bùn đen, mịn như bột, tanh mùi rong. Trên áo gối cũng có, một vệt dài chỗ tôi gối đầu.
Tối hôm trước tôi đã gội đầu bằng nước bồ kết, mạ tôi nấu cho, để về nhà chồng cho thơm. Từ Phong Điền xuống Hương Hồ tôi ngồi trong xe đò kín mít. Tôi không đi gần bến sông nào.
Tôi thay áo gối, cuộn cái áo dơ giấu dưới đáy giỏ. Sáng ra tôi dậy sớm hơn mạ chồng, xách xuống bến giặt trước khi ai thấy.
Đêm thứ hai tôi lại mơ. Y hệt. Căn nhà rường, khói trầm, cây bàng có nhánh gãy, đứa nhỏ chạy quanh cột, người đàn ông gầy đứng ở cửa gọi mạ thằng Tí ơi. Đêm thứ ba cũng vậy. Hết tuần đầu tôi không dám kể với ai. Con gái mới về nhà chồng mà nói đêm nào cũng mơ thấy đàn ông lạ gọi mình, ai nghe cũng nghĩ bậy.
Bùn thì không phải đêm nào cũng có. Mùi trầm thì đêm nào cũng có. Tôi tập dậy sớm, gội đầu bằng nước lạnh ở lu sau bếp.
Qua tuần thứ ba, một buổi trưa tôi ngồi giặt đồ ở bến sông dưới chân vườn. Mạ chồng tôi ngồi trên bậc cao lặt rau muống. Nắng nhạt, mặt sông Hương xanh lặng. Tay tôi vò đồ, miệng tôi hát lúc nào không hay:
"Ơ... Chong chóng ai xoay, gió nồm về bến cũ. Con ngủ cho mạ chèo, một mái nhì qua phá rộng ơ..."
Giọng tôi kéo dài, ngân lên, hạ xuống, đều như mái chèo. Tôi hát hết câu mới giật mình. Tôi chưa từng nghe câu đó bao giờ. Mạ tôi chỉ biết ru con bằng mấy câu ầu ơ ví dầu.
Mạ chồng tôi ngưng tay. Bà nhìn tôi một hồi lâu, rồi hỏi:
"Con học hò mái nhì ở mô rứa?"
Tôi nói con không biết. Con buột miệng. Bà bỏ nắm rau xuống rổ, chùi tay vô vạt áo.
"Mạ ở bên sông ni sáu chục năm, nghe hò cũng nhiều. Mà câu ni thì mạ chưa nghe ai hò. Hò chi mà buồn thúi ruột."
Bà nói vậy rồi thôi. Nhưng chiều đó, lúc dọn cơm, tôi thấy bà đứng nhìn tôi từ cửa bếp, cái nhìn của người nhìn một món đồ lạ ai bỏ quên trong nhà mình.
Đêm hôm đó, giấc mơ đổi khác lần đầu.
Đứa nhỏ đang chạy quanh cột thì dừng lại. Nó quay về phía tôi, chìa cái chong chóng đỏ ra, mắt sáng rỡ. Người đàn ông ở cửa không gọi tên nữa. Anh ta ngoái ra phía bến, nơi mặt nước màu chì đã lên ngang bậc đá thứ hai, rồi nói, giọng run:
"Mạ thằng Tí. Nước lên rồi."