☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 2: Nước lên năm Mão

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tháng Ba năm đó tôi có thai. Mạ chồng tôi mừng, sáng nào cũng nấu cho tôi một chén cháo gạo de. Anh Khải đi làm công trình cho một nhà vườn ở Kim Long, chiều về tới ngõ là hỏi vọng vô: em ăn chi được chưa. Tôi ói lên ói xuống, gầy rộc, nhưng trong bụng tôi yên.

Chỉ có ban đêm là không yên. Giấc mơ vẫn tới, đêm nào cũng tới, như người ta đi chợ về đúng đường quen. Nước trong mơ không lên thêm nữa. Nó nằm ngang bậc đá thứ hai, phẳng lì, màu chì. Người đàn ông vẫn đứng ở cửa, vẫn gọi mạ thằng Tí ơi. Đứa nhỏ vẫn chạy quanh cột với cái chong chóng đỏ.

Tôi quen dần. Người ta quen được với cái gì lặp lại đủ lâu. Tôi dậy gội đầu ở lu sau bếp, cuộn áo gối dính bùn đem giặt riêng, không ai hỏi. Mạ chồng tôi thì có lẽ biết. Bà không nói, chỉ mua về một xấp áo gối vải xanh đậm, loại có dính gì cũng khó thấy.

Đầu tháng Mười một, mưa bắt đầu. Mưa không phải kiểu mưa dầm mỗi năm. Mưa như ai đổ thùng, mưa cả ngày cả đêm không ngớt một hơi. Ngày thứ hai thì ruộng trắng. Ngày thứ ba nước sông Hương đỏ ngầu, cuồn cuộn mang theo chuối, củi, cả xác heo trương phình.

Người làng Hương Hồ lớn tuổi nói với nhau, lụt ni to hơn lụt năm Thìn. Lúc đó tôi không biết lụt năm Thìn là năm nào. Tôi chỉ thấy mạ chồng tôi đứng ở hiên, nhìn ra sông, môi mấp máy niệm Phật.

Đêm mồng hai, nước vô tới sân. Anh Khải cùng hai người hàng xóm khiêng cái tủ thờ lên rầm thượng. Tôi bụng đã bảy tháng, mạ chồng không cho động tay. Vậy mà tôi làm. Tôi làm như người đã làm cả trăm lần.

Tôi dồn gạo vô hai cái bao cát, buộc miệng bằng dây lạt, đưa lên rầm trước. Tôi lấy dây dừa cột cái xuồng nan của nhà hàng xóm vô cây cột hiên, cột hai nút, nút sau thắt ngược lại. Tôi bỏ hộp quẹt, đèn pin, mấy củ khoai vô một cái thùng thiếc có nắp, treo lên móc xà. Tôi biết nước sẽ vô từ phía vườn chứ không phải phía ngõ, dù phía ngõ thấp hơn. Mà nước vô phía vườn thật.

Anh Khải đứng nhìn tôi, nước ngập tới đầu gối. Anh hỏi em học ai mấy cái ni. Tôi nói em không biết. Tôi nói thật.

Khuya đêm đó cả nhà lên rầm thượng ngồi. Rầm nhà mạ chồng tôi thấp, lót ván, chỉ ngồi khom được. Bên dưới nước réo qua nhà, đập vào cột kêu ồ ồ. Mạ chồng ôm tràng hạt ngủ gà ngủ gật. Tôi tựa lưng vô vách, đầu nặng trĩu.

Tôi không nhớ mình đã ngủ. Tôi chỉ nhớ lúc anh Khải lay vai tôi, hai bàn tay anh lạnh ngắt.

Tôi không ngồi trên rầm nữa. Tôi đứng dưới nhà, nước ngập tới ngực, cái bụng bảy tháng chìm trong nước đục. Hai tay tôi đang vòng một sợi dây quanh cây cột cái. Sợi dây là cái khăn rằn của mạ chồng tôi. Tôi đang thắt nút.

Anh Khải nói lúc tôi leo xuống, anh tưởng tôi đi tiểu. Rồi anh nghe tôi nói chuyện. Anh rọi đèn pin xuống, thấy tôi đứng cạnh cột, vừa quấn khăn vừa nói nhỏ, giọng dịu dàng mà gấp gáp:

"Con ngồi đây chờ mạ. Ngồi yên đây nghe. Mạ đi kêu bọ về."

Anh Khải bế tôi lên rầm. Anh không la, không hỏi gì. Anh lau người tôi bằng cái áo khô duy nhất còn lại, đắp lên tôi cái mền ướt một góc. Mạ chồng tôi thức dậy, nhìn cái khăn rằn còn quấn hờ trên cột dưới nước, rồi nhìn tôi. Bà niệm Phật to hơn.

Ba ngày sau nước rút. Làng Hương Hồ trôi mất mười một cái nhà, chết bốn người. Nhà mạ chồng tôi còn, nhờ cột lim. Bùn lên tới đầu gối, mùi tanh nồng cả tháng không hết.

Một đêm, lúc dọn dẹp xong, hai vợ chồng nằm trên cái giường gỗ mít đã kỳ cọ sạch bùn, tôi kể cho anh Khải nghe. Kể hết. Căn nhà rường, cây bàng, người đàn ông gầy, đứa nhỏ, cái chong chóng, cái tên lạ. Tôi kể xong thì khóc. Tôi sợ anh nghĩ tôi có người khác.

Anh nằm im lâu lắm. Rồi anh hỏi một câu tôi không ngờ:

"Nhà nớ mấy hàng cột?"

Tôi nói bốn hàng. Câu trả lời ra trước khi tôi kịp nghĩ.

"Kèo kiểu chi? Có trính không?"

Tôi nói kèo chồng rường, có trính. Trính chạm con dơi. Bàn thờ đặt thấp, ngay dưới trính, có cái lư đồng chân quỳ. Mái thấp, hai chái che sụp xuống gần tới đất. Vách gian bên tả bằng ván, gian bên hữu bằng phên tre trét đất.

Tôi không biết trính là gì. Tôi không biết kèo chồng rường là gì. Tôi chỉ nói được, như người đọc chữ trên một tấm bảng hiện trước mắt.

Anh Khải ngồi dậy. Anh lấy cây bút chì thợ mộc kẹp sau tai, lấy một tấm ván vụn còn ướt, vẽ. Anh vẽ rất nhanh, hỏi thêm vài câu, tôi trả lời. Một căn nhà hiện ra trên tấm ván. Mái thấp, hai chái sụp, đúng như căn nhà trong mơ của tôi.

"Nhà ni không phải nhà trên Huế," anh nói. "Mái thấp ri là nhà dưới phá. Người ta làm cho chịu gió nồm, chịu bão. Thợ Quảng Điền hay làm kiểu ni."

Tôi hỏi anh có tin em không. Anh không trả lời. Anh cất tấm ván vô góc nhà, kéo mền đắp cho tôi.

Sáng hôm sau, lúc tôi chải đầu, một chiếc lá rơi xuống lòng tay. Lá bàng, đỏ thẫm, còn ướt, cuống tươi như mới bứt. Làng Hương Hồ không có cây bàng nào. Tới giờ tôi vẫn chắc chắn như vậy.