☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 11: Gọi vía về nhà

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chiều đó anh Khải cõng mệ Gái từ chân đê qua căn nhà rường. Mệ ngồi trên bậc thềm, cầm nửa cái khăn đỏ lên sát mắt, sờ từng mũi chỉ vàng. Mệ sờ lâu lắm.

"Khăn o Hò," mệ nói. "Anh Đò mua ở chợ Đông Ba, chở về khoe cả xóm. Trời ơi. Mấy chục năm thằng Tí ở ngay trước mặt tui."

Rồi mệ khóc, cái khóc không ra tiếng của người già, chỉ có nước mắt chảy theo nếp nhăn xuống cằm.

Mệ nói vía đứa nhỏ lạc thì phải mạ nó gọi mới về. Người xóm Cồn ngày xưa gọi vía cho con nít bị nước làm hoảng, mạ đứng ở bến cầm đèn, gọi tên cúng cơm, gọi tới khi đứa nhỏ ngủ được mới thôi. Mệ nói việc ni không cần thầy.

Hai ngày sau, anh Vĩnh trở lại. Con Thảo đã hạ sốt. Lần này anh không đi một mình. Chị Diệu ngồi sau xe, ôm cái giỏ đựng nhang đèn, mặt còn sưng vì thức đêm.

Chị Diệu đứng ở bến cây bàng một hồi lâu, nhìn căn nhà, nhìn ông Lượm đang ngồi vót que tre dưới hiên. Rồi chị đi lại phía tôi, nắm tay tôi, không nói câu nào. Tay chị lạnh, mà nắm chặt. Tối đó chị phụ tôi nấu cháo, như hai chị em trong nhà.

Đêm gọi vía trời không mưa. Mặt phá lặng, sao mọc dày. Tôi đứng ở bậc đá thứ ba, cạnh cái lỗ cắm sào, tay cầm cái đèn dầu mệ Gái cho mượn. Ông Lượm ngồi bệt dưới chân cây cột cái, ôm nửa cái khăn đỏ. Anh Vĩnh đứng ngoài ngạch cửa, chỗ anh đã đứng mười ba năm.

Anh Khải quỳ bên chân cột. Mệ Gái dặn, cái nút năm xưa ai thắt thì phải có người tháo. Người thắt đã chết, nên người tháo là một người thợ. Anh dùng mũi dao nhọn của nghề, khều từng thớ vải mục ra khỏi kẽ nứt, nhẹ như gỡ cái dằm trong tay con nít.

Nút thứ nhất bung ra. Tôi gọi.

"An ơi. Tí ơi. Về với mạ."

Giọng tôi run. Tôi gọi lần nữa, to hơn, như người ta gọi con về ăn cơm buổi chiều.

"Tí ơi. Mạ về rồi. Bọ cũng về rồi. Con về đi con."

Nút thứ hai bung ra.

Tiếng ếch nhái ngoài đầm im bặt. Mùi trầm dâng lên, rất nhẹ lần này, thoảng qua như hơi thở. Ngọn đèn dầu trong tay tôi nghiêng về phía nhà, dù không có gió.

Rồi trên nền đất nện, từ chân cột ra tới ngạch cửa, hiện lên một hàng dấu chân nhỏ. Ướt. Đi thẳng, không vòng. Hàng dấu chân dừng lại trước mặt anh Vĩnh, đứng yên một lúc, như đứa nhỏ ngước lên nhìn cha nó. Rồi quay vô, đi tới chỗ ông Lượm ngồi, và hết ở đó, ngay dưới bàn chân trần nứt nẻ của ông.

Ông Lượm ngã người ra sau, tựa vào cột, thở một hơi dài như người vừa lội nước lên bờ.

Anh Vĩnh nhấc chân. Chân anh lên được. Anh bước qua ngạch cửa, lần đầu tiên, rồi đứng giữa gian nhà mà khóc như đứa nhỏ.

Sáng hôm sau, ông Lượm dậy sớm, nấu nước, pha một ấm chè. Ông rót cho tôi một chén, nhìn tôi bằng đôi mắt lần đầu tiên không còn đục.

"Chị ăn chi chưa," ông hỏi. "Tui nấu cháo cá nghe."

Ông gọi tôi là chị. Không gọi mạ nữa. Tôi cầm chén chè mà tay run, không biết mình mừng hay mất.

Đêm đó là đêm cuối cùng tôi mơ thấy căn nhà. Nước trong mơ đã rút hết, bậc đá khô, nắng chiếu vào gian giữa. Người đàn ông có mặt anh Vĩnh bước qua ngạch cửa, nắm tay thằng Tí. Người đàn bà quấn khăn đỏ nắm tay kia. Ba người đi ra bến. Thằng nhỏ ngoái lại, vẫy cái chong chóng.

Người đàn ông quay lại nhìn tôi lần cuối, nói nhỏ:

"Mạ thằng Tí. Về với chồng con đi."

Tôi ngủ một mạch tới sáng. Lần đầu tiên sau mười ba năm. Tóc tôi không có mùi trầm, không có bùn.

Lời hứa dưới thúng năm Giáp Thìn đã đòi tôi từ đúng cái đêm tôi làm vợ người ta lần nữa. Còn anh Đò thì kiếp nào cũng đi theo vợ, theo vô tới giấc mơ.

Mùa khô năm sau, anh Khải với anh Vĩnh dựng lại cái chái bên tả, thay hai cây đòn tay mục, lợp lại toàn bộ mái ngói. Anh Khải đẽo một cái bài vị bằng gỗ mít, khắc tên Trần Lự, Phan Thị Nhạn, đặt lên bàn thờ thấp dưới cái trính chạm con dơi. Anh Vĩnh bỏ tiền làm một tấm bia đá cho nấm mồ cuối hàng ở mả lụt, khắc hai cái tên đó.

Ông An sống thêm tám năm trong căn nhà rường. Ông vẫn chài lưới, vẫn hò ngoài phá, nhưng không còn ngơ ngác. Ông học được cách viết tên mình, Trần Văn An, viết bằng phấn lên cánh cửa bàn khoa, ai hỏi ông cũng chỉ cho coi. Cuối tháng Mười năm 2020, sau mấy trận lụt liền nhau ở miền Trung, ông mất trong giấc ngủ. Người xóm chôn ông bên cạnh cha mạ, ở mả lụt sau đồi cát.

Anh Vĩnh về với chị Diệu, vẫn chạy xe khách tuyến Đông Hà vô Huế. Mười mấy năm nay tôi với anh Vĩnh không gặp riêng nhau lần nào. Không phải cấm. Chỉ là không cần.

Căn nhà giờ do người xóm Cồn Bàng giữ, coi như nhà thờ chung. Năm nào tới giỗ mồng chín tháng Mười, vợ chồng tôi cũng chạy xe xuống. Nhà anh Vĩnh xuống buổi sáng. Nhà tôi xuống buổi chiều. Không ai hẹn, mà thành lệ.

Chiều nào tôi tới, trên cây cột cái cũng đã có sẵn một cái chong chóng mới cắm vào kẽ nứt. Ba cánh giấy hồng điều, một cánh giấy báo. Tôi cắm cái của tôi bên cạnh. Gió phá thổi vào, hai cái quay cùng một chiều.

Câu hò thì tôi chỉ còn nhớ nửa đầu. Nửa sau tôi quên từ đêm gọi vía, tập hoài không nhớ lại được.

Còn anh Khải, năm ngoái, đêm mồng chín tháng Mười, anh nằm cạnh tôi, rúc mũi vào tóc tôi một hồi rồi cười khẽ trong bóng tối.

"Năm mô tới bữa ni, tóc em cũng thơm mùi trầm," anh nói. "Anh quen rồi."