☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 10: Chữ khắc trên thượng lương

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi leo lên cái thang tre anh Khải bắc ở hiên. Trên mái, ngói đã gỡ ra một khoảng ngay trên gian giữa, để lộ bộ khung gỗ đen sẫm. Anh Khải ngồi vắt vẻo trên một cây đòn tay, tay cầm cái bay trét vữa, chỉ vào cây xà ngang cao nhất chạy dọc nóc nhà.

"Cây thượng lương," anh nói. "Thợ nhà rường dựng nhà xong hay khắc ngày dựng lên đây. Bị trét vôi với đất dày quá, anh cạo ra mới thấy."

Trên mặt gỗ có mấy hàng chữ khắc bằng mũi dao. Nét chữ quốc ngữ, vụng, sâu, như của một người ít học mà khắc rất cẩn thận. Tôi bò lại gần, đọc thành tiếng, từng chữ một.

"Năm Tân Sửu. Trần Lự cùng vợ Phan Thị Nhạn dựng nhà nơi bến bàng. Con trai Trần Văn An, ở nhà kêu thằng Tí, sinh tháng Tư. Nguyện cho con bình an."

Dưới hàng chữ khắc một cái chong chóng nhỏ bốn cánh.

Tôi đọc xong thì ngồi im trên đòn tay. Trần Lự. Phan Thị Nhạn. Hai cái tên đó tôi chưa từng nghe, vậy mà trong ngực tôi có cái gì đó gật đầu.

Anh Khải đặt cái bay xuống, nói chậm:

"Mệ Gái nói thằng Lượm lên xóm năm bảy tám, bảy chín, mười sáu, mười bảy tuổi. Tính ra hắn sinh năm sáu mốt, sáu hai. Năm ni hắn năm mươi mốt. Không phải bảy mươi đâu em. Hắn già vì hắn khổ."

Tôi nhìn anh. Anh nói tiếp:

"Sáng qua anh coi hắn cột ghe. Hai nút, nút sau thắt ngược lại. Hồi lụt năm Mão em cột cái xuồng nhà hàng xóm cũng y rứa."

Bên dưới vang lên tiếng mái chèo. Ông Lượm về. Ông thấy mái nhà bị gỡ ngay trên cây cột cái thì la lên, leo thang lên, mặt đỏ bừng.

"Tui nói rồi! Không được đụng cái cột!"

Tôi không nói gì. Tôi chỉ đưa tay chỉ hàng chữ khắc trên thượng lương. Ông Lượm nhìn theo. Ông không biết chữ. Ông nhìn mấy hàng chữ, rồi nhìn tôi.

Tôi đọc lại cho ông nghe. Tới chữ thằng Tí, ông Lượm đứng khựng trên cây đòn tay, hai tay buông thõng.

Rồi tôi làm cái việc tôi đã làm cả đời mà không biết vì sao. Tôi hò.

"Ơ... Chong chóng ai xoay, gió nồm về bến cũ. Con ngủ cho mạ chèo, một mái nhì qua phá rộng ơ..."

Mười ba năm tôi chỉ biết tới đó.

Ông Lượm hò tiếp. Giọng ông khàn đặc, run run, mà chắc, như người đã hò câu này cả nghìn đêm ngoài phá:

"Ơ... Nước lên ba bậc thềm, mạ buộc con vô cột. Con ngồi chờ mạ nghe, mạ đi kêu bọ về ơ..."

Câu hò mệ Gái nghe đêm nước lên. Câu tôi nói dưới nước lụt năm Mão, cái bụng bảy tháng chìm trong nước đục, mà không biết mình nói. Câu người ta chỉ hò cho một đứa nhỏ bị buộc vào cột.

Ông Lượm leo xuống thang. Ông lục dưới gầm bàn thờ, lôi ra một cái hộp thiếc đựng bánh đã rỉ sét, mở nắp. Trong hộp có một cái que tre khô cong, đầu que còn dính một mảnh giấy báo đã ngả nâu. Và một nửa cái khăn đỏ, phai thành màu hồng nhạt, mép rách tưa. Ở góc khăn còn đọc được một nhành lá bàng thêu chỉ vàng.

Ông kể đứt đoạn, tôi ghép lại được như vầy. Ông Bảy Chài ở Thuận An, người nuôi ông, nói sáng hôm sau lụt năm Thìn, ông Bảy thấy một đứa nhỏ mắc trong đám lục bình ở cửa biển.

Nó ôm một khúc cột gãy, quanh bụng còn buộc nửa cái khăn đỏ. Tay nó nắm chặt một cái que tre, gỡ không ra. Hỏi tên, nó chỉ nói Tí. Hỏi cha mạ đâu, nó chỉ nói mạ đi kêu bọ về.

Nó sốt mười ngày. Hết sốt thì ngơ ngơ, không nhớ chi hết. Nhà ông Bảy đặt tên lại là Lượm, vì lượm được dưới nước.

"Tui không nhớ mạ," ông Lượm nói, ngồi bệt dưới chân cột. "Không nhớ mặt. Chỉ nhớ câu hò. Lớn lên tui đi tìm cái bến có cây bàng. Đi hoài, tới đây ngủ một đêm. Tui biết là đây. Mà không biết răng biết."

Anh Khải quỳ xuống bên chân cột, chỗ những chong chóng cắm dày nhất. Anh rút từng cái ra, đặt cẩn thận xuống nền. Rồi anh thò ngón tay vào một kẽ nứt sâu ngang tầm bụng một đứa nhỏ ba tuổi, khều ra một thứ đen đúa, cứng quèo vì bùn khô.

Một nút vải. Mục nát mà còn nguyên hình. Hai nút, nút sau thắt ngược lại. Bên trong nút, chỗ bùn không thấm tới, sợi vải còn màu đỏ.

Anh Khải đặt nút vải cạnh nửa cái khăn của ông Lượm. Hai mép rách khớp vào nhau như hai mảnh của một cái chén vỡ.

Thằng Tí không chết. Thằng Tí ngồi trước mặt tôi, tóc bạc trắng, lưng còng, năm mươi mốt tuổi, lớn hơn tôi mười sáu tuổi. Cái đứa nhỏ khóc trong căn nhà mấy chục năm, cái đứa chạy quanh cột trong giấc mơ của tôi, không phải hồn người chết. Nó là cái vía của một đứa trẻ ba tuổi, bị bỏ lại trong đêm nước lên, cột chặt vào cây cột cùng nửa cái khăn, chờ mạ về.

Và tôi nhớ ra.

Không phải trong mơ. Tôi nhớ như nhớ chuyện hôm qua. Cái đèn dầu chập chờn, nước lên tới bậc thềm thứ ba.

Tôi buộc thằng nhỏ vào cột, buộc hai nút, nút sau thắt ngược cho chắc. Nó khóc, níu áo tôi. Ngoài phá có tiếng ai la, giọng của chồng tôi, lạc trong gió. Tôi đứng giữa cửa, một bên là con, một bên là bóng tối có tiếng anh. Tôi hò cho con nín. Tôi hứa với con, kiếp sau mạ có làm vợ ai, mạ cũng về tìm con. Rồi tôi xuống thúng.

Tôi đã chọn. Tôi đã chọn anh.

Ông Lượm bò lại gần tôi bằng hai đầu gối. Ông đặt cái đầu bạc trắng lên đùi tôi, như một đứa nhỏ mệt, và nói, giọng của đứa nhỏ ba tuổi trong mơ:

"Mạ."

Trên cây cột cái, mấy cái chong chóng còn lại đồng loạt ngừng quay. Rồi từng cái, từng cái một, tuột khỏi kẽ nứt, rơi xuống nền đất nện, không một tiếng động.