☾ Truyện Ma Có Thật
← Cây đàn phòng nhạc

Chương 1: Phòng nhạc tầng ba

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi về trường ấy vào tuần cuối tháng Tám năm 2019. Tôi là con gái Nam Sách, học sư phạm nghệ thuật ra, mẹ muốn tôi về gần nhà. Một trường cấp ba ven sông Thái Bình, thuộc huyện Thanh Hà, nhận tôi theo hợp đồng tập sự một năm, dạy hoạt động trải nghiệm và phụ trách đội văn nghệ.

Trường nằm sát chân đê. Bên kia đê là sông, nước đỏ như gạch non, chảy chậm mà sâu. Dãy nhà mới sơn vàng, dãy cũ ba tầng thì tường đã mốc xanh từng mảng, cửa sổ vẫn là chớp gỗ sơn màu lá mạ.

Thầy hiệu trưởng tên Khiêm, hơn năm mươi tuổi, người tầm thước, tóc chải ngược, đeo kính gọng vàng. Thầy tiếp tôi ở phòng hội đồng, rót trà, hỏi tôi chơi được những nhạc cụ gì. Tôi bảo em chơi đàn phím, biết ghi ta, sáo trúc thì tạm được. Thầy cười, bảo ngày xưa thầy cũng dạy nhạc ở chính trường này, rồi mới lên làm quản lý.

"Cái phòng nhạc trên tầng ba dãy cũ, thầy để nguyên cho em. Đàn hơi cũ, nhưng còn tốt. Thầy mua từ năm chín bảy đấy."

Người dẫn tôi lên phòng là bác Lộc, bảo vệ. Bác ngoài sáu mươi, đi dép tổ ong, chùm chìa khoá đeo bên hông kêu loảng xoảng. Lên đến tầng ba, gió từ sông thổi xuyên hành lang, mang theo mùi bùn và mùi rơm ai đốt ngoài bãi.

Phòng nhạc ở cuối dãy, cạnh kho thiết bị. Bác Lộc mở khoá, đẩy cửa. Trong phòng có bốn dãy ghế nhựa xanh xếp chồng, một cái bảng đen có kẻ sẵn năm dòng kẻ trắng bằng sơn, một cái tủ gỗ hai cánh, và sát cửa sổ là cây đàn. Đàn đặt trên một cái giá gỗ đóng riêng, phủ tấm nhung đỏ đã bạc thành màu hồng gạch.

"Đây, cô giáo. Phích cắm thì cô cắm ở ổ dưới chân tường kia, ổ trên hỏng rồi."

Bác nói xong đứng ở cửa, không bước vào. Tôi lật tấm nhung. Đàn phím điện tử loại cũ, thân nhựa đen đã xước. Phím trắng ngả vàng như răng người hút thuốc lâu năm.

"Lâu lắm không ai chơi hả bác?"

"Ừ. Từ hồi thầy Khiêm lên làm hiệu phó thì chả ai chơi. Thỉnh thoảng có hội diễn thì khiêng xuống hội trường."

Tôi hỏi thế sao vẫn để trong phòng, không cất kho. Bác Lộc gãi gáy, bảo thầy Khiêm dặn để nguyên. Rồi bác đưa tôi chìa khoá phòng, dặn chiều về nhớ đóng chớp cửa sổ, kẻo mưa hắt vào.

"Mà cô giáo đừng ở muộn quá. Dãy này điện yếu."

Tôi cảm ơn bác. Lúc ấy tôi nghĩ bác nói chuyện điện thật.

Đội văn nghệ có mười một em, đa số con gái lớp mười và mười một. Tôi định làm một tiết mục hợp xướng cho lễ kỷ niệm năm mươi năm thành lập trường vào tháng Mười một, nên chiều nào cũng ở lại soạn phần đệm.

Chiều thứ Năm, tôi xuống phòng hội đồng in tài liệu, máy in kẹt giấy mất gần một tiếng. Lúc lên lại cầu thang dãy cũ thì trời đã chạng vạng. Hành lang tầng hai không có ai. Ngoài đê, tiếng ếch nhái bắt đầu râm ran.

Đến chiếu nghỉ tầng ba, tôi nghe tiếng đàn.

Tiếng đàn phím, chọn kiểu tiếng ống sáo, loại tiếng mà đàn cũ nào cũng có, hơi rè. Một giai điệu chậm, nhịp ba, như ru. Câu đầu đi lên bốn nốt rồi buông xuống, câu sau lặp lại nhưng đổi cuối. Tôi học nhạc mười năm, thuộc gần hết các làn điệu ru miền Bắc. Câu này tôi chưa nghe bao giờ.

Điều làm tôi đứng lại lâu hơn là một nốt ở câu thứ ba. Giai điệu đang đi trong giọng Đô trưởng, đến chỗ ấy lại chạm vào một nốt thăng, chói lên một chút, như người hát lỡ giọng. Rồi nó trở về, hiền như cũ.

Tôi nghĩ đội văn nghệ có em nào ở lại. Tôi bước lên mấy bậc cuối, đi dọc hành lang, gọi.

"Em nào đấy? Sao không xin cô chìa khoá?"

Tiếng đàn tắt ngay giữa câu. Không phải tắt kiểu người chơi nhấc tay ra, mà như ai rút điện, đứt phựt.

Ngoài kia tiếng ếch nhái cũng im.

Cửa phòng nhạc vẫn khoá. Tôi đứng trước cửa một lúc, tay cầm chùm chìa, không tra vào ổ. Qua khe chớp cửa sổ cạnh cửa ra vào, trong phòng tối om. Tôi nhớ rất rõ tôi đã khoá cửa trước khi xuống, vì bác Lộc dặn.

Tôi mở cửa, bật đèn. Bóng đèn tuýp chớp ba bốn lần mới sáng hẳn.

Phòng trống. Ghế nhựa vẫn xếp chồng. Tấm nhung đỏ vẫn phủ trên đàn, nhưng lệch sang một bên, để hở nửa bàn phím bên trái. Tôi đi tới. Phích cắm của đàn nằm dưới sàn, cách ổ điện chân tường gần một mét. Chiều nay tôi chưa cắm nó.

Vậy mà đèn nguồn nhỏ màu đỏ ở góc đàn vẫn đang sáng.

Tôi nhìn cái đèn ấy rất lâu, cho đến khi nó mờ dần rồi tắt, như một hòn than nguội. Tôi tự bảo mình là tụ điện trong đàn còn tích điện, đồ cũ hay thế. Tôi lật hẳn tấm nhung ra.

Trên bàn phím có mấy vệt đỏ nâu. Không nhiều, sáu bảy phím trắng và một phím đen. Mỗi vệt to bằng đầu ngón tay, hơi ẩm, sờ vào thì mịn và trơn như đất thịt. Tôi đưa ngón tay lên mũi. Mùi bùn sông. Đúng cái mùi gió vẫn mang lên từ bãi bên kia đê.

Tôi lấy khăn giấy lau. Vệt bùn trôi đi dễ dàng, để lại phím đàn sạch và lạnh. Lạnh hơn những phím khác, lạnh như vừa ngâm nước.

Tôi phủ nhung lại, tắt đèn, khoá cửa, kiểm tra ổ khoá hai lần. Xuống đến chân cầu thang, tôi thấy bác Lộc đang ngồi ở phòng bảo vệ xem thời sự, cốc trà trên bàn đã nguội.

"Bác ơi, chiều nay có ai lên tầng ba không ạ?"

Bác không quay ra. Một lúc sau mới hỏi lại, giọng nhỏ.

"Cô nghe thấy gì à?"

Tôi chưa kịp trả lời thì trên tầng ba, ở cuối dãy, một nốt đàn vang lên. Chỉ một nốt. Cái nốt thăng ấy.