Chương 2: Câu ru không tên
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Bác Lộc không lên cùng tôi. Bác bảo cô giáo về đi, để mai bác lên xem, chắc chuột chạy qua phím. Tôi không cãi. Tôi đạp xe về phòng trọ ở xóm dưới, cách trường hai cây số, suốt đường không dám ngoái lại nhìn dãy nhà cũ.
Đêm ấy tôi không ngủ được. Câu hát cứ chạy trong đầu, như mọi giai điệu lạ mà tai người học nhạc bắt được. Gần sáng, tôi bật đèn, lấy vở chép nhạc, ngồi ghi. Câu đầu tôi nhớ chắc. Câu hai nhớ được nửa. Câu ba thì tôi ghi được đúng cái chỗ chói lên ấy: nốt Pha thăng, rơi vào phách mạnh, rồi lùi về Mi.
Theo luật hoà âm thì nốt ấy không sai hẳn. Nhưng nó lạ. Một người viết bài ru bình thường sẽ để nốt Pha, cho êm. Ai để Pha thăng ở đấy, hoặc là người rất giỏi, hoặc là người chưa học bài bản, cứ hát theo cái tai mình.
Sáng hôm sau tôi lên phòng nhạc sớm. Tấm nhung vẫn phủ như tôi để. Phích cắm nằm dưới sàn. Bàn phím sạch. Tôi cắm điện, chọn đúng tiếng ống sáo, chơi lại những gì đã ghi. Ánh nắng sớm chiếu qua chớp cửa thành từng sọc lên phím đàn. Câu hát nghe giữa ban ngày hiền lành đến lạ, như một bài hát thiếu nhi.
Chơi đến nốt Pha thăng, tôi thấy ngón tay lạnh buốt. Tôi rụt tay lại, xoa vào nhau. Ngoài cửa sổ, một con thuyền hút cát chạy ngược sông, máy nổ đều đều.
Giờ ra chơi, tôi hỏi thăm mấy cô giáo trong tổ xem trường có bài hát ru nào làm truyền thống không. Cô Thoa tổ Văn, gần đến tuổi nghỉ hưu, dạy ở đây từ năm chín mươi, nghe tôi ngâm nga thì đặt bút xuống.
"Bài gì đấy em?"
"Em cũng không biết chị ạ. Em nghe được, định hỏi."
Cô Thoa nhìn tôi một lúc. Rồi cô bảo không biết, chị mù nhạc. Cô quay về chấm bài. Nhưng lúc tôi đi ngang qua bàn, tôi thấy cô đã ngừng chấm, ngồi nhìn ra cửa sổ, cây bút đỏ đặt nghiêng trên tập bài.
Chiều thứ Hai, đội văn nghệ tập buổi đầu tiên. Tôi cho các em khởi động giọng, rồi tập một bài hợp xướng về quê hương. Trong lúc nghỉ, tôi ngồi vào đàn, chơi lại câu ru ấy, không nói gì, xem có em nào nhận ra.
Một em gái lớp mười một tên Ngọc, tóc buộc đuôi gà, dừng uống nước.
"Ơ, bài này em nghe quen lắm cô ạ."
"Em nghe ở đâu?"
"Em không nhớ. Hình như hồi bé, ở hội trường xã, có cô nào hát. Hay trên đài huyện ấy cô."
Mấy em khác lắc đầu. Ngọc ngân theo được hai câu đầu, rồi ngập ngừng ở câu ba. Em hát nốt Pha, không phải Pha thăng.
"Chỗ này cô đánh hơi lạ cô ạ. Em nghe nó cứ là lạ."
Tôi bảo cô cũng thấy thế. Tôi không nói với các em cô nghe được ở đâu.
Tôi bắt đầu để ý chiếc đàn. Tôi tự mua một cái ổ khoá nhỏ, khoá thêm cửa phòng nhạc, giữ chìa riêng. Tôi chụp ảnh bàn phím mỗi chiều trước khi về. Hai ngày liền không có gì. Đến chiều thứ Tư, trời đổ mưa từ ba giờ, sông lên nước, mùi bùn bốc nồng hơn mọi ngày. Tôi quyết định ở lại.
Tôi không ngồi trong phòng. Tôi không đủ gan. Tôi ngồi ở chiếu nghỉ cầu thang, cách cửa phòng nhạc chừng hai chục bước, đặt điện thoại trên bậc thang, bật ghi âm. Tôi mang theo một chai nước, một cái áo khoác. Đèn hành lang tầng ba hôm ấy chập chờn, cứ sáng một lúc lại sụt xuống vàng như đèn dầu.
Trời tối dần. Mưa ngớt. Ngoài đê, ếch nhái kêu inh tai, lâu lâu có tiếng chó sủa ở xóm bên kia.
Rồi chúng im. Không phải im dần, mà im cùng một lúc, như có ai đóng cửa.
Hành lang lạnh đi. Tôi thấy hơi lạnh trườn lên từ bậc đá dưới mông, qua lưng áo. Mùi bùn sông đậm đến mức tôi nếm được trong cổ họng, tanh và chát.
Tiếng đàn bắt đầu.
Lần này tôi nghe được trọn. Bốn câu, nhịp ba, chậm như tiếng võng. Có tiếng nhấn phím lộc cộc nhỏ ở dưới tiếng nhạc, giống tiếng móng tay gõ lên nhựa. Đến câu thứ ba, nốt Pha thăng vang lên, và tôi thấy rõ người chơi giữ nó lâu hơn nhịp. Giữ như cố tình. Như muốn ai đó nghe thấy.
Hết bốn câu, đàn lặng. Tôi ngồi im, điện thoại vẫn đang ghi. Tôi đếm hơi thở mình, mãi đến khi tiếng ếch nhái từ ngoài đê trở lại, lẻ tẻ rồi râm ran.
Tôi đứng dậy, chân tê dại, đi tới cửa. Hai ổ khoá vẫn nguyên. Tôi mở cả hai. Bật đèn.
Tấm nhung đỏ nằm dưới sàn, dưới chân giá đàn, như bị ai gạt rơi. Phích cắm vẫn nằm cách ổ điện một mét. Và trên bàn phím, vệt bùn nhiều hơn lần trước. Chúng không còn lấm tấm, mà kéo thành vệt dài, như ngón tay ướt miết từ phím này sang phím kia.
Ghế đàn ướt. Một vũng nước nhỏ đọng giữa mặt ghế gỗ, nước đục màu gạch, có vài sợi rong mảnh như sợi chỉ.
Tôi đứng nhìn rồi làm một việc mà đến giờ tôi vẫn không hiểu sao mình làm được. Tôi đếm những phím có bùn. Đô, Rê, Mi, Son, La, Si. Và một phím đen, Pha thăng.
Đúng bảy nốt của câu hát ru. Không thừa, không thiếu.
Tôi về phòng trọ, khoá cửa, cài thêm then. Tôi ngồi trên giường, cắm tai nghe, mở bản ghi âm. Bốn mươi phút đầu chỉ có tiếng ếch nhái và tiếng thở của tôi. Rồi tiếng ếch nhái tắt. Rồi tiếng đàn, xa và mờ, nhưng đủ rõ để nghe từng nốt.
Hết bốn câu, bản ghi còn chạy thêm hai phút. Tôi định tắt. Nhưng ở giây cuối, gần sát tai nghe, như người đứng ngay sau lưng tôi lúc ở chiếu nghỉ, có một giọng con gái ngân lại đúng một nốt.
Pha thăng. Ngân khẽ, rồi buông thành hơi thở dài.