Chương 9: Quyển vở bìa xanh
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Bác Lộc rọi đèn pin vào tủ. Hai ngăn trên chỉ có giáo trình cũ. Ngăn dưới cùng trống trơn. Nước rỉ ra từ khe giữa tấm ván đáy và thành tủ.
Cô Thoa gõ tay lên tấm ván. Tiếng gõ bộp, rỗng. Bác Lộc lấy dao nhíp lách vào khe. Tấm ván bật lên dễ dàng, như chỉ chờ có người cạy. Bên dưới là một khoảng hở cao chừng hai đốt ngón tay.
Trong đó có một cái túi nilon gói kín, buộc chun. Nilon đã ngả vàng, giòn. Cái túi khô cong, dù xung quanh nước vẫn rỉ.
Tôi mở túi ngay trên bàn giáo viên, dưới ánh đèn tuýp. Một quyển vở bìa xanh, loại vở giấy Bãi Bằng, góc bìa quăn. Trang đầu, nét chữ tròn trịa tôi đã thấy trên nhãn băng cát-xét: "Con ru mẹ. Phạm Thị Hiền, 11A2. Viết cho mẹ."
Những trang sau là khuông nhạc kẻ tay bằng bút chì, thước kẻ hơi lệch nên dòng nào cũng chếch lên một chút ở cuối. Nốt nhạc viết bằng bút bi xanh, xoá đi viết lại nhiều chỗ. Có ngày tháng ghi bên lề, từ tháng Mười một năm 1998 đến tháng Ba năm 1999. Ở câu thứ ba, cạnh nốt Pha thăng, cô bé vẽ một con đò nhỏ xíu, mũi đò hướng lên, như đang sang sông.
Kẹp giữa vở là ba tờ giấy khác. Nét chữ nghiêng, cứng, của người lớn. Bản chép lại bài hát, đổi tên thành "Lời ru bên sông". Lời bị gạch xoá, đổi con thành mẹ, đổi giường bệnh thành mái rạ. Chỉ câu "để con ru mẹ ngủ" là không gạch. Và ở câu thứ ba, nốt Pha thăng bị khoanh đỏ, gạch chéo, viết đè lên chữ Pha.
Cô Thoa lấy tay che miệng. Bác Lộc đứng tựa vào tủ, đèn pin trong tay rọi xuống sàn.
Vũng nước dưới chân tôi đã khô từ lúc nào.
"Phòng này khoá mười mấy năm," cô Thoa nói, mắt vẫn nhìn quyển vở. "Em mở ra, lại sắp đem bài của nó ra hát dưới tên người khác thêm một lần. Nó không nằm yên được."
Sáng thứ Hai, tôi và cô Thoa mang quyển vở, cuộn băng và tờ giấy chép tay lên phòng thầy hiệu phó. Thầy nghe hết, rồi gọi chủ tịch công đoàn vào. Đến chiều, nhà trường mời ông Tư lên.
Ông Tư mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất, cài cúc đến tận cổ. Ông ngồi ở đầu bàn phòng họp, trước mặt là quyển vở bìa xanh. Ông không mở nó. Ông chỉ đặt bàn tay lên bìa, như đặt lên đầu một đứa trẻ.
Thầy Khiêm vào sau cùng. Thầy nhìn thấy quyển vở trên bàn, đứng khựng ở cửa. Cả phòng im. Tôi nghe tiếng quạt trần quay.
Thầy ngồi xuống. Không ai phải hỏi. Thầy nói, giọng khàn, không nhìn ai.
"Hồi ấy tôi ba mươi hai tuổi. Dạy nhạc mười năm ở trường làng, chưa ai biết tên. Con bé đưa bài, tôi nghe một lần là biết hay. Tôi định gửi tên tôi, được giải rồi tôi sẽ nói là của học trò, tôi chỉ hướng dẫn. Được giải rồi thì..."
Thầy dừng lại rất lâu.
"Được giải rồi thì tôi không nói được nữa. Hôm trao giải nó đòi vở. Tôi bảo nó, em nói ra thì ai tin em. Tôi nói thế. Tôi nói đúng câu ấy."
Thầy cúi đầu.
"Đêm ấy tôi lên phòng nhạc lấy vở định đốt. Tôi không đốt được. Tôi giấu đi, rồi tôi khoá phòng lại. Hai mươi năm."
Ông Tư vẫn ngồi im, tay đặt trên quyển vở. Rồi ông đứng dậy, cúi chào cả phòng, cầm quyển vở, đi ra. Ông không nói với thầy Khiêm một câu nào.
Tuần sau, thầy Khiêm nộp đơn xin thôi chức hiệu trưởng, xin nghỉ hưu trước tuổi. Nhà trường gửi văn bản lên ban tổ chức cuộc thi của tỉnh năm xưa, kèm vở và băng, đề nghị đính chính tác giả. Gần Tết thì có công văn trả lời. Người ta ghi lại tên ca khúc là "Con ru mẹ", tác giả Phạm Thị Hiền. Cô Thoa mang công văn xuống xóm Bãi, đọc cho ông Tư nghe trước ban thờ.
Nghe nói thầy Khiêm về quê Gia Lộc ở với mẹ. Bà cụ tám mươi sáu tuổi, mắt đã kém. Người làng bảo tối nào cũng thấy thầy ngồi ở hiên, quạt cho bà ngủ.
Lễ kỷ niệm năm mươi năm diễn ra vào sáng hai mươi tháng Mười một. Tiết mục thứ ba của chương trình là "Con ru mẹ", đồng ca đội văn nghệ, Ngọc lĩnh xướng, lời gốc trong quyển vở bìa xanh. Ông Tư ngồi hàng ghế đầu, đúng chỗ con gái ông đã ngồi hai mươi năm trước. Trong tay ông cầm lọ dầu gió xanh đã cạn.
Đến câu thứ ba, Ngọc vút lên nốt Pha thăng. Tôi đệm đúng nốt ấy, trên một cây đàn mới. Ông Tư nhắm mắt lại.
Còn cây đàn cũ, tôi gắn lại phím Pha thăng bằng keo, rồi để nó ở phòng nhạc tầng ba như cũ. Đêm trước lễ kỷ niệm, tôi ở lại trường muộn để soạn nốt phần đệm. Lúc tôi xuống đến chiếu nghỉ tầng hai thì nghe trên kia tiếng đàn.
Lần này không có mùi bùn. Ếch nhái ngoài đê vẫn kêu. Tiếng đàn trong và đều, không rè. Bốn câu, nhịp ba, chơi trọn từ đầu đến cuối, không dừng ở đâu, không giữ nốt nào lâu hơn nhịp. Nốt Pha thăng vang lên nhẹ nhàng, như một tiếng gọi đò đã được người bên kia sông nghe thấy.
Hết bài, đàn lặng. Tôi lên mở cửa. Phích cắm nằm trên sàn. Bàn phím sạch, khô, không một vệt bùn. Năm đường cào trên nắp đàn vẫn còn đó, nhưng khe cào không còn dính gì.
Từ hôm ấy, cây đàn không chơi một mình nữa.
Tôi ở lại trường, hết tập sự thì được ký hợp đồng tiếp. Mỗi năm, đội văn nghệ mới vào, tôi dạy các em bài ru ấy trong buổi tập đầu tiên. Đến câu thứ ba, đứa nào cũng hát nốt Pha, cho êm, và tôi lại phải sửa.
Phím Pha thăng gắn keo trên cây đàn cũ vẫn hơi lệch, cao hơn các phím đen khác một chút. Ngày nắng nóng đến đâu, đặt tay lên nó vẫn thấy lạnh, như vừa nhúng dưới nước sông.