☾ Truyện Ma Có Thật
← Cây đàn phòng nhạc

Chương 8: Con ru mẹ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

"Con đặt tên là Con ru mẹ. Lời con lấy từ câu mẹ hay ru con hồi bé, con đảo lại. Hồi mẹ nằm viện, con hát cho mẹ ngủ. Bây giờ con hát lại để mẹ nghe."

Rồi cô bé hát. Không có đàn đệm, chỉ có giọng, và tiếng gà gáy xa, và tiếng chổi tre quét sân.

Câu đầu đi lên bốn nốt, rồi buông xuống. Tôi thuộc từng nốt, nhưng tôi chưa từng nghe lời của nó. Lời không phải về bến sông, về con đò. Lời là một đứa con ngồi bóp chân cho mẹ trên giường bệnh, bảo mẹ nhắm mắt đi, con thức thay mẹ, con đưa võng thay mẹ, ngoài kia sông vẫn chảy, đò vẫn sang. Cả bài là con ru mẹ. Không phải chỉ một câu.

Đến câu thứ ba, cô bé hát vút lên nốt Pha thăng. Giữ lâu. Giọng trong mà chói, đúng như mẹ cô từng nói, như người gọi đò bên kia sông.

Khổ cuối: "Mẹ ơi, nằm yên đấy, để con ru mẹ ngủ."

Tôi ngồi trước cái đài, hai tay bịt miệng. Câu viết lệch khỏi bài của thầy Khiêm, câu thầy bảo là ẩn dụ, câu người ta khen nhất, hoá ra là câu duy nhất thầy không đổi. Có lẽ vì nó hay quá. Có lẽ vì thầy không nỡ.

Bài hát hết. Có tiếng cạch, như người bấm dừng. Rồi băng chạy tiếp, tiếng nền khác hẳn. Có tiếng quạt trần kẽo kẹt, tiếng chớp cửa sổ lạch cạch, tiếng ếch nhái rất gần. Tôi nhận ra ngay. Phòng nhạc tầng ba. Có ai đó đặt cái máy ghi âm trên giá đàn, quên tắt.

Một giọng đàn ông trẻ, giọng mà tôi phải nghe đến lần thứ hai mới chắc. Giọng thầy Khiêm, hai mươi năm trước.

"Bài này khá đấy. Em để vở lại cho thầy xem. Thầy sửa sang lại cho chuẩn, rồi thầy gửi đi thi giúp em. Học sinh tự gửi người ta không nhận đâu."

"Thật hả thầy?"

"Thật. Mà cái nốt này phải sửa. Pha thăng ở đây sai luật, ban giám khảo người ta chấm trượt."

Im một lúc. Rồi giọng cô bé, nhỏ mà cứng.

"Thầy sửa chỗ nào cũng được ạ. Thầy đừng sửa nốt ấy. Chỗ ấy là chỗ mẹ em gọi đò."

Thầy cười, bảo thôi được, để thầy xem. Tiếng ghế xô. Tiếng bước chân. Rồi băng hết, chỉ còn tiếng rè rè kéo dài cho đến khi khay đài bật nút đánh cạch.

Tôi ngồi đến sáng. Tôi tua lại ba lần. Lần nào đến chỗ "chỗ ấy là chỗ mẹ em gọi đò", tôi cũng phải dừng.

Sáng hôm sau, tiết ba tôi được nghỉ, tôi mang đài đến nhà cô Thoa. Cô ở trong làng, nhà có giàn trầu không. Cô nghe hết, không nói một lời. Nghe xong, cô đi vào buồng, lục một lúc lâu, mang ra một cái phong bì giấy xi măng đã giòn.

"Hồi ấy chị là giáo viên chủ nhiệm. Công an xã có cho chị xem cái giấy thầy Khiêm nộp, bảo là thư con bé viết cho thầy. Chị xin chép lại, chị giữ đến giờ."

Cô rút ra một tờ giấy học trò gấp tư. Chữ của cô Thoa, chép lại nguyên văn mấy dòng:

"Thầy ơi, em xin thầy. Em không cần giải. Thầy trả em quyển vở thôi. Trong ấy có bài của mẹ em. Thầy đừng để em phải nói với ai."

Cô Thoa gấp tờ giấy lại, đặt lên bàn.

"Người ta đọc cái này thành thư tình. Thầy bảo con bé đòi thầy cái gì đó, đòi tình cảm, đòi chú ý. Chị đọc thì chị biết không phải. Nhưng chị không biết quyển vở nào, bài nào. Chị không hiểu nhạc. Hai mươi năm nay chị cứ nghĩ, giá chị hỏi thêm một câu."

Tôi nhìn tờ giấy. Tôi nghĩ đến tấm ảnh trao giải, cô bé ngồi hàng ghế đầu, hai tay nắm chặt đến trắng bệch. Người ta gọi tên cô ba lần, để cô lên hát minh hoạ bài hát của chính mình, dưới tên một người khác.

Tôi nghĩ đến câu ông Tư nhớ đến chết: thầy bảo con có nói ra thì cũng chả ai tin con.

Chiều ấy, tôi đạp xe xuống xóm Bãi. Ông Tư đang ngồi đan lưới ở chỗ cũ, như thể từ hôm trước ông chưa đứng dậy. Tôi cắm đài vào ổ điện nhà hàng xóm, ngồi xuống bậc thềm cạnh ông, bấm nút.

Ông nghe tiếng con gái mình. Ông không khóc. Ông đặt hai bàn tay lên đầu gối, ngồi thẳng lưng, nghe từng câu như người nghe đọc bản án. Đến đoạn giọng thầy Khiêm, tay ông nắm lại.

Băng hết. Ông vẫn ngồi im.

"Vở đâu cô?"

Đó là câu duy nhất ông hỏi. Tôi nói cháu sẽ tìm. Tôi nói câu ấy mà không biết tìm ở đâu, cho đến khi tôi nhớ lại lời bác Lộc. Thầy Khiêm cầm quyển vở bìa xanh trong phòng nhạc, đêm cô bé chết. Và mười mấy năm sau, thầy vẫn dặn bác Lộc để nguyên căn phòng ấy, để nguyên cây đàn ấy, không cho khiêng đi đâu.

Tối hôm ấy, tôi rủ cô Thoa cùng lên phòng nhạc. Cô bảo cô già rồi, cô chả sợ gì nữa. Bác Lộc đi theo, cầm cái đèn pin to.

Phòng nhạc lạnh như hầm. Cây đàn vẫn nằm dưới tấm nhung, cái hốc đen chỗ phím Pha thăng há ra như một cái răng gãy. Tôi đặt tay vào túi áo, nắm lấy phím đàn gãy tôi mang theo.

Ngoài đê, tiếng ếch nhái tắt.

Cánh cửa tủ gỗ ở góc phòng tự bật mở, kêu két một tiếng dài. Từ đáy tủ, nước đục màu gạch rỉ ra, chảy thành một dòng mảnh trên nền gạch hoa, chảy thẳng về phía chân tôi.